Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 226/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 18-8-2023

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Văn Quỳnh.
Ông Nguyễn Hồ Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Bùi Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị A, sinh năm 1994;

Địa chỉ cư trú: Xóm E, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992;

Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm E, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An;

Hiện đang cư trú tại: Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Đặng Thị A trình bày:

1

Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau vào ngày 24 tháng 01 năm 2014, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, tình cảm vợ chồng bình thường, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và anh T đi nước ngoài. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh T hay uống rượu, cờ bạc, bỏ bê vợ con và ngoại tình nên vợ chồng sống ly thân. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nhất là vào cuối năm 2022 và đầu năm 2023. Hiện tại, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Văn B, sinh ngày 12/5/2015; Nguyễn Hương Tường V, sinh ngày 11/8/2017 và Nguyễn Huyền M, sinh ngày 25/02/2020. Hiện các con đang ở với chị và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con đến lúc trưởng thành và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Đặng Thị A hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên chị có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T, hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân của anh Nguyễn Văn T là bà Vũ Thị H (mẹ của anh T) đến lần thứ hai mà thân nhân của anh T cũng không cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án biết. Đồng thời, cho đến nay anh T cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án bà Vũ Thị H (mẹ của anh T) có đơn trình bày: Bà là mẹ của anh Nguyễn Văn T, hiện anh T đang lao động ở nước Đức, bà có hỏi địa chỉ nhưng anh T không nói. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, bà đã thông tin cho anh T biết việc chị A nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh T đồng ý ly hôn, nhưng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Việc anh Nguyễn Văn T vắng mặt được xác định là cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

2

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đặng Thị A, cho chị A được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Đề nghị giao cho chị A được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung Nguyễn Văn B, sinh ngày 12/5/2015; Nguyễn Hương Tường V, sinh ngày 11/8/2017 và Nguyễn Huyền M, sinh ngày 25/02/2020 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị A không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Chị A không yêu cầu và anh T chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Đặng Thị A hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T hiện cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh T có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn anh Nguyễn Văn T không thể tham gia hòa giải được do vắng mặt tại nơi cư trú và hiện đang ở nước ngoài, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Đặng Thị A đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhưng do bận công việc nên chị có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị A phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về các tài liệu và chứng cứ mà chị đã nộp cho Tòa án. Bị đơn anh Nguyễn Văn T hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T thông qua người thân là bà Vũ Thị H (mẹ của anh T) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn “Yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh Nguyễn Văn T”; Quyết

3

định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác. Đồng thời, yêu cầu anh T trình bày ý kiến của mình về việc chị A có đơn ly hôn. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh T cũng không cung cấp địa chỉ của anh T ở nước ngoài cho Tòa án biết. Về phía bà Vũ Thị H có đơn trình bày: Bà là mẹ của anh Nguyễn Văn T, hiện anh T đang lao động ở nước Đức, bà có hỏi địa chỉ nhưng anh T không nói. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, bà đã thông tin cho anh T biết việc chị A nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh T đồng ý ly hôn. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 24/7/2023 và lần thứ hai vào ngày 18/8/2023 nhưng cả hai lần anh T đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh Nguyễn Văn T vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị A và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào ngày 24 tháng 01 năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Theo chị A trình bày: Sau khi kết hôn, tình cảm vợ chồng bình thường, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và anh T đi nước ngoài. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh T hay uống rượu, cờ bạc, bỏ bê vợ con và ngoại tình nên vợ chồng sống ly thân. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nhất là vào cuối năm 2022 và đầu năm 2023. Theo Công văn số 9204/QLXNC-P5 ngày 21/4/2023 của Cục Q, Bộ C cung cấp: Anh Nguyễn Văn T xuất nhập cảnh 46 lần, lần cuối xuất cảnh ngày 03/12/2020 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị A nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Đặng Thị A và anh Nguyễn Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị A yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Theo chị A trình bày, trong quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung. Nay ly hôn, chị A có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con đến lúc trưởng thành. Nguyện vọng của chị A phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định của pháp luật; vì hiện nay chị A là người trực tiếp nuôi

4

con, còn anh T đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị A. Giao cho chị Đặng Thị A được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung Nguyễn Văn B, sinh ngày 12/5/2015; Nguyễn Hương Tường V, sinh ngày 11/8/2017 và Nguyễn Huyền M, sinh ngày 25/02/2020 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị A không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị A không yêu cầu và anh Nguyễn Văn T chưa có ý kiến nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[5]. Về án phí: Chị Đặng Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đặng Thị A.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị A được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung Nguyễn Văn B, sinh ngày 12/5/2015; Nguyễn Hương Tường V, sinh ngày 11/8/2017 và Nguyễn Huyền M, sinh ngày 25/02/2020 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị Đặng Thị A không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

5

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này; dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị A đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012856 ngày 11/5/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Đặng Thị A đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị A có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Công Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Quỳnh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 226/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa A và T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger