Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/HS-ST

Ngày: 17/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên.

Bà Lò Thị Cải.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 206/2024/TLST- HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với Bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Sỹ T; sinh năm: 1960, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Sỹ Q (đã chết); Con bà: Bùi Thị S (đã chết); Vợ thứ nhất là bà Đoàn Thị L; sinh năm 1956 (đã chết), vợ thứ hai là bà Bùi Thị N; sinh năm 1957. Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 07/5/2020 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 01 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số: 76/2020/HSST- ST ngày 07/5/2020. Đến ngày 12/02/2021 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/5/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 28/5/2024, Vũ Sỹ T đi bộ từ nhà tại Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên lên bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi Bị cáo mang theo 100.000 đồng. Đến khu vực bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì Bị cáo gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không biết tên, năm sinh, địa chỉ). Bị cáo hỏi người này: “Có Heroine bán không?”, người đàn ông đó trả lời: “Có, lấy bao nhiêu?”, Bị cáo nói “Bán cho tôi 100.000 đồng”. Sau đó Bị cáo lấy 100.000 đồng đưa cho người đàn ông, người đàn ông cầm tiền đồng thời lấy trong túi quần đang mặc ra 01 gói nilon màu xanh đưa cho Bị cáo. Bị cáo nhận gói nilon màu xanh người đàn ông đưa mở ra kiểm tra thì thấy bên trong được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có các cục chất bột màu trắng là Heroine. Sau đó Bị cáo dùng bật lửa hơ lửa hàn kín gói lại như cũ, cất vào túi quần bên trái và đi bộ về nhà, chiếc bật lửa sau khi sử dụng do hết ga nên Bị cáo đã vứt đi. Khi Bị cáo đi đến khu vực Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì gặp Tổ công tác Đồn Biên phòng T1 và Công an xã T đang làm nhiệm vụ, Tổ công tác đã yêu cầu Bị cáo dừng lại để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ trong túi quần bên trái Bị cáo đang mặc có 01 gói Heroine. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Ngày 28/5/2024 Đồn Biên phòng T1 khởi tố vụ án hình sự số: 05/QĐ- KT. Ngày 29/5/2024 Đồn Biên phòng T1 chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 29/5/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Vũ Sỹ T như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,13 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 890/KL- KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Vũ Sỹ T giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,06 gam.

Tại bản cáo trạng số: 153/CT-VKSHĐB ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Vũ Sỹ T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 05 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: 0,06 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định. 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh giấy bạc màu trắng là vật không có giá trị sử dụng.

Trả lại cho Bị cáo: 01 thẻ căn cước công dân số: [...] mang tên Vũ Sỹ T.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Sỹ T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 28/5/2024 tại khu vực Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,13 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c)....Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, đi học đến lớp 7/10. Năm 1978 Bị cáo lên Nông trường B, P, tỉnh Lai Châu làm kinh tế, đến năm 1982 Bị cáo kết hôn với bà Đoàn Thị L; sinh năm 1956 và có 02 người con chung, đến năm 1991 bà Đoàn Thị Lê c. Năm 1994 Bị cáo kết hôn với bà Bùi Thị N; sinh năm 1957 và có 01 người con chung. Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1996. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2019 cho đến ngày bị bắt.

Ngày 07/5/2020 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 01 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số: 76/2020/HSST- ST ngày 07/5/2020. Đến ngày 12/02/2021 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, Bị cáo đã được xóa án tích nhưng có nhân thân xấu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xong xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo làm ruộng, không có công ăn việc làm ổn định nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án gồm: 0,06 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định. 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh giấy bạc màu trắng là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 thẻ căn cước công dân số: [...] mang tên Vũ Sỹ T không liên quan đến hành vi phạm tội của Bị cáo cần trả lại cho Bị cáo theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS.

[6] Các vấn đề khác:

Trong quá trình điều tra Bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do Bị cáo mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ ở đâu). Do Bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, tại phiên Tòa, Bị cáo xin HĐXX miễn án phí HSST cho Bị cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Vũ Sỹ T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt Bị cáo: 01 năm 05 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/5/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS.
    • * Tịch thu tiêu hủy: 0,06 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định. 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh giấy bạc màu trắng là vật không có giá trị sử dụng.
    • * Trả lại cho Bị cáo: 01 thẻ căn cước công dân số: [...] mang tên Vũ Sỹ T.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/9/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND H. Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS HDB;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV C.an HĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA

Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 226/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 01 năm 05 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger