|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 226/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 7 - 2024 Về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ;
Bà Bùi Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 18/01/1993. Địa chỉ: xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: anh Lê Văn T, sinh ngày 10/8/1991. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: nước ngoài. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Lê Văn T tự nguyện yêu thương nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An ngày 14 tháng 12 năm 2016. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, sau thời gian chung sống do quan điểm và tình tình không hợp, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm rạn nứt. Năm 2019 anh T đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc và không liên lạc với chị H từ đó cho đến nay. Nay chị H thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị H yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn anh Lê Văn T.
Về con chung: chị H, anh T có một con chung là Lê Đức P, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2017 đang sống cùng chị H. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho thân nhân và niêm yết theo quy định, nhưng bị đơn là anh Lê Văn T vắng mặt, do đó không có ý kiến.
Chị Nguyễn Thị Thu H không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú hoặc làm việc hiện nay của anh T, chỉ biết anh T đang sinh sống tại Hàn Quốc.
Theo Công văn số 11163/QLXNC-P3 ngày 30/5/2024 của Cục Q - Bộ C thì anh Lê Văn T xuất cảnh qua cửa khẩu N ngày 05/4/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu bà Trần Thị H1 (mẹ đẻ anh T), trú tại xóm B, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của anh T và yêu cầu bà H1 thông báo cho anh T biết việc chị H đang khởi kiện ly hôn anh T tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, đề nghị gửi lời khai, ý kiến về Tòa án. Bà Trần Thị H1 cho biết anh T hiện đang đi lao động tại Hàn Quốc và vẫn liên lạc với bà và anh em bên nội ở Việt Nam qua mạng xã hội Facebook hỏi thăm sức khỏe; anh T đã biết chị H đang khởi kiện ly hôn anh T và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết, nhưng do công việc hay thay đổi nơi ở nên không có địa chỉ cụ thể để cung cấp cho Tòa án. Anh T đồng ý ly hôn để giải phóng cho hai người, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết.
Xét thấy, anh T đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị H và anh T, nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của anh T liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Lê Văn T. Về con chung: đề nghị giao con chung Lê Đức P, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2017, cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: do chị H chưa yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu, anh T chưa có ý kiến nên không xem xét. Về án phí: chị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Về thẩm quyền: chị Nguyễn Thị Thu H, anh Lê Văn T có địa chỉ cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Anh T hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1, 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì anh Lê Văn T vắng mặt tại nơi cư trú và hiện nay đang ở nước ngoài.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thu H, đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và chị H có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H là đúng quy định pháp luật.
Đối với bị đơn - anh Lê Văn T, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Việc anh T không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án, thể hiện anh T cố tình dấu địa chỉ. Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
[2] Về nội dung
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Lê Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 14 tháng 12 năm 2016 tại Ủy tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống hạnh phúc, sau đó thì xẩy ra mâu thuẫn. Năm 2019 anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, nguyên nhân quan điểm và tính tình không hợp nhau, dẫn đến tình cảm rạn nứt, anh T ở nước ngoài và không quan tâm đến vợ con. Xét thấy tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Lê Văn T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp chận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Lê Văn T.
[2.2] Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Lê Văn T có một con chung là Lê Đức P, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2017. Từ khi anh T đi nước ngoài đến nay, cháu P sống cùng chị H, chị H có nguyện vọng được chăm sóc con chung.
Xét thấy: hiện tại không xác định được anh T đang ở đâu, làm gì tại nước ngoài, nên không thể giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H có nguyện vọng được nuôi con chung. Do đó, cần giao con chung của chị H, anh T cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi có điều kiện.
Về cấp dưỡng: chị Nguyễn Thị Thu H chưa yêu cầu, nên miễn xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Thu H chưa yêu cầu và anh T chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51; Điều 53; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 38; Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T1 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H.
- Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Lê Văn T.
- Về con chung:
- Giao con chung là Lê Đức P, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị Thu H chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: chị Nguyễn Thị Thu H chưa yêu cầu, anh Lê Văn T chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0012777 ngày 11/4/2024 (anh Nguyễn Trọng Tùng A nộp thay).
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Anh Lê Văn T đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 226/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 226/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
