Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 226/2023/HS-ST

Ngày: 14-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Đức Chung – Chủ tịch Hội cựu chiến binh thị xã Bến Cát;

2/ Ông Lục Kim Thanh – Giáo viên hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 196/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Trung B, sinh ngày 09/7/2005, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 15, ấp Q, xã E, huyện R, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã Y, huyện U, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N, sinh năm 1974 và bà Trần Thanh K, sinh năm 1986; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Tiến D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Trần Thanh K, sinh năm 1986; HKTT: Khóm 5, phường I, thành phố O, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã Y, huyện U, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

+ Ông Võ Văn L, sinh năm 1973; HKTT: Ấp 36, xã P, huyện S, tỉnh Bạc Liêu. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

+ Ông Văn Sỹ T, sinh năm 1989; HKTT: Tổ 9, khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phạm Trung B là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý đá (ma túy loại Methamphetamine). Bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2023.

Khoảng 20 giờ ngày 14/6/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo sử dụng điện thoại di động Iphone 13 màu đen gọi qua mạng xã hội facebook cho người đàn ông tên L (không rõ lai lịch) để nhờ L hỏi mua giúp bị cáo 1.900.000 đồng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, L gọi lại cho bị cáo nói bị cáo đi đến khu vực đèn xanh, đèn đỏ gần cổng khu du dịch ĐN thuộc thành phố G, tỉnh Bình Dương sẽ có người giao ma túy cho bị cáo. Sau khi nói chuyện điện thoại với L, bị cáo điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 94K1-307.61 đến tiệm cầm đồ HK thuộc khu phố A, phường B, thị xã C gặp quản lý tiệm cầm đồ là ông Văn Sỹ T để cầm cố điện thoại di động Iphone 13 của mình lấy số tiền 2.000.000 đồng nhằm mua ma túy sử dụng. Sau đó, bị cáo tiếp tục điều khiển xe đến địa điểm hẹn như L chỉ dẫn và gặp 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) bán cho bị cáo 01 bao thuốc lá hiệu Hero bên trong có 01 túi nylon chứa ma túy với giá 1.900.000 đồng. Sau đó, bị cáo lấy túi ma túy cầm trong lòng bàn tay trái, vứt bỏ bao thuốc lá, rồi điều khiển xe để về nhà trọ. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày 14/6/2023, khi bị cáo điều khiển xe mô tô về đến đoạn đường giao nhau giữa đường VĐ4 và đường DA1 thuộc khu phố H, phường B, thị xã C thì bị lực lượng Công an phường B, thị xã Bến Cát phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Bến Cát kiểm tra hành chính, phát hiện bị cáo cầm ma túy trong lòng bàn tay trái nên bắt quả tang bị cáo cùng vật chứng gồm:

  • 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng.
  • 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 94K1-307.61.

Ngày 15/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Bến Cát ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 227/QĐ-CQĐT-KTMT gửi Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương để giám định tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nylon miệng kéo dính thu giữ nói trên.Tại Kết luận giám định số 331/KL-KTHS (MT) ngày 23/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 2,1647 gam. Mẫu vật sau giám định được niêm phong, có khối lượng 2,0436 gam.

Do bị cáo là người chưa hành niên và giấy khai sinh của bị cáo đăng ký quá hạn nên ngày 16/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Bến Cát ban Quyết định trưng cầu giám định số 306/QĐ-CQĐT-CSHS gửi Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh để giám định tuổi của bị cáo Phạm Trung B. Theo Kết luận giám định độ tuổi số 5455/KLGĐĐT-C09B ngày 22/8/2023 của Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tại thời điểm giám định (tháng 8/2023) Phạm Trung B có độ tuổi từ 17 năm đến 17 năm 06 tháng.

- Đối với xe mô tô Yamaha loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 94K1-307.61. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên do ông Võ Văn L đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2020, ông L bán xe cho bà Trần Thanh K là mẹ của bị cáo Phạm Trung B. Ngày 25/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả xe mô tô trên cho bà K.

- Đối với điện thoại di động Iphone 13, màu đen. Ngày 26/6/2023, bà K tự nguyện đến tiệm cầm đồ HK gặp ông Văn Sỹ T là quản lý tiệm cầm đồ chuộc lại điện thoại di động Iphone 13, màu đen của Phạm Trung B với giá 2.000.000 đồng và giao nộp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý theo thẩm quyền.

* Tại Cáo trạng số 214/CT-VKSBC ngày 10/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Trung B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; áp dụng các quy định tại Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • Đối với xe mô tô Yamaha loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 94K1-307.61, xe do ông Võ Văn L đứng tên đăng ký sở hữu. Năm 2020, ông L bán xe cho bà Trần Thanh K là mẹ của Phạm Trung B. Ngày 25/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả xe mô tô cho bà K là phù hợp pháp luật nên không đề cập xử lý.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư dán kín số 331/PC09 được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 2,0436 gam.
  • Tịch thu vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13, màu đen.

Đối với người đàn ông tên L và người phụ nữ không rõ lai lịch có hành vi bán ma túy cho bị cáo, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.

* Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thanh K trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 94K-307.61 là xe bà mua của ông Võ Văn L. Ngày 14/6/2023, bà có cho bị cáo mượn xe trên để sử dụng nhưng bà không biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy sử dụng. Bà đã nhận lại xe mô tô trên và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Võ Văn L trình bày: Ông không có yêu cầu gì trong vụ án, ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để xét xử vắng mặt ông theo quy định của pháp luật.

Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Văn Sỹ T trình bày: Ông không có yêu cầu gì trong vụ án, ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để xét xử vắng mặt ông.

* Theo kế hoạch bào chữa cho bị cáo, người bào chữa chỉ định cho bị cáo trình bày: Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Phạm Trung B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là phù hợp với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, lần phạm tội này là lần phạm tội đầu tiên theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên nên cần áp dụng Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 214/CT-VKSBC ngày 10/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân nhân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 22 giờ 10 phút ngày 14/6/2023, tại đoạn đường giao nhau giữa đường VĐ4 và đường DA1 thuộc khu phố H, phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang bị cáo Phạm Trung B có hành vi tàng trữ 01 túi nylon chứa ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 2,1647 gam nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 214/CT-VKSBC ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng do mức cao nhất khung hình phạt đến 05 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo, cũng như giáo dục, cải tạo ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức có phần bị hạn chế. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[7] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[8] Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[9] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

[9.1] Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 94K1-307.61, số máy 5C6J153786, số khung RLCS5C6J0FY153798 do ông Võ Văn L đứng tên đăng ký. Năm 2020, ông L bán xe cho bà Trần Thanh K là mẹ của bị cáo. Ngày 14/6/2023, bà K có cho bị cáo mượn xe để sử dụng nhưng không biết bị cáo sử dụng để đi mua ma túy sử dụng. Xét, đây là tài sản hợp pháp của bà K và bà K không biết bị cáo sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội nên ngày 25/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã trả lại xe trên cho bà K là phù hợp.

[9.2] Đối với 01 bì thư niêm phong ghi số 331/PC09 niêm phong có chữ ký của người bị bắt Phạm Trung B, người chứng kiến Lê Thanh H, chữ ký cán bộ niêm phong Bùi Trung C, Thiếu tá Nguyễn Thanh H (Phó trưởng công an phường), dấu đỏ của Công an phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương và hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Xét, đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9.3] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen. Xét, đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[10] Đối với người đàn ông tên L và người phụ nữ không rõ lai lịch có hành vi bán ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý.

[11] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Xét ý kiến của người bào chữa chỉ định cho bị cáo về tội danh; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên nên cần áp dụng Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng người bào chữa cho rằng bị cáo có nhân thân tốt, lần phạm tội này là lần phạm tội đầu tiên theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ nên không chấp nhận.

[13] Án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự;
  • - Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Trung B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Trung B 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư dán kín số 331/PC09 được niêm phong có chữ ký của người bị bắt Phạm Trung B, người chứng kiến Lê Thanh H, chữ ký cán bộ niêm phong Bùi Trung C, Thiếu tá Nguyễn Thanh H (Phó trưởng công an phường), dấu đỏ của Công an phường B, thị xã C, tỉnh Bình Dương và hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen (Camera có 02 mắt, màn hình có vết dộp, máy bị trầy xước, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).

(Vật chứng nêu trên được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Trung B phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Quyền kháng cáo:

  • - Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 14/11/2023).
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thị xã Bến Cát;
  • - Công an Tx. Bến Cát;
  • - CCTHA Tx. Bến Cát;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Quang Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2023/HS-ST ngày 14/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal possession of narcotics)

  • Số bản án: 226/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal possession of narcotics)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Trung B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger