Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/DS-PT

Ngày: 10/5/2024

V/v: “Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất vô hiệu; Yêu cầu hủy

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng;

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Lợi;

Ông Bùi Anh Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Lã Thị Tú Anh- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 178/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc “Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4802/2024/QĐ-PT, ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đỗ Xuân T (tên gọi khác ông Đỗ Văn T1), sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1965; địa chỉ: Số nhà A, đường Q, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:

Ông Bùi Khắc T2- Công ty L1 và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến D1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn N - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Ủy ban nhân dân phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá T3 - Chức vụ: Chủ tịch UBND phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

  3. Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1964 (vợ ông Đỗ Xuân T); địa chỉ: Tổ dân phố A, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Đỗ Xuân T trình bày:

Ông Đỗ Xuân T và bà Hoàng Thị L hiện đang ở trên diện tích đất 163m² đất tại tờ bản đồ số 14, thửa đất số 40, địa chỉ tại: Thôn A, xã X, huyện T là phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/10/2003;

Năm 2004 có chị D2 địa chỉ ở P, Tĩnh G là chỗ quen biết với bà L có mượn bà L(vợ ông T) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn làm ăn, nhiều lần ông bà hỏi thì bà D2 khất lần không trả, mãi sau một thời gian thì bà D2 mới trả giấy cho ông bà. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông T cho rằng bà D2 mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông nhưng sau đó bà D2 đã trả lại giấy, nên ông không có yêu cầu gì đối với bà D2;

Toàn bộ diện tích đất thì gia đình ông vẫn sử dụng ổn định và xây nhà ở từ năm 1990, do nhà ở xuống cấp nên đến năm 2001 gia đình có sửa lại. Đến năm 2021 ông làm đơn xin được cấp giấy phép xây dựng nhà thì gia đình mới biết diện tích đất của gia đình ông đã được UBND huyện T (nay là UBND thị xã N) làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Lê Văn D, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập tại UBND xã X là hoàn toàn giả mạo, lập khống, ông T cam kết không ký bất kỳ một giấy tờ nào về chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông D;

Việc UBND huyện T(nay là UBND thị xã N) đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn D đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông;

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình, ông T đề nghị Tòa án giải quyết:

  • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 30/6/2004 tại UBND xã X vô hiệu do giả mạo chữ ký và họ tên của ông;
  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 372107, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00003 do UBND huyện T (nay là UBND thị xã N), tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 06/3/2007 mang tên ông Lê Văn D.

Tại bản tự khai, quá trình hòa giải, bị đơn ông Lê Văn D trình bày:

Vào năm 1994 ông có qua môi giới mua một suất đất của ông T, địa chỉ xã X, nay là phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Hai bên đã thỏa thuận mua bán thống nhất, ông T đã ra UBND xã X xin xác nhận chuyển nhượng có xác nhận và chữ ký của Chủ tịch UBND xã X, ông đã nộp thuế và phí cho xã đầy đủ.

Năm 2003 ông T được cấp trích lục đất thì ông có làm đơn lên xã xin tách phần đất của ông T ra cho ông, mọi thủ tục giấy tờ ông nhờ địa chính của xã X, lúc đó là ông C phụ trách, đến năm 2007 ông mới được nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông;

Năm 2016 ông T đã tự ý xây quán lên phần đất của ông, ông đã đề nghị tháo dỡ nhưng ông T xin ông cho ông T mượn khi nào có nhu cầu thì ông T trả;

Năm 2021 ông T đã xây móng chồng lấn lên phần đất của ông, phường đã lập biên bản và ông T đã thu lại, từ đó đến giờ ông T vẫn đang chiếm dụng và sử dụng trái phép diện tích đất của ông. Vậy ông D đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ông T trả lại diện tích đất cho ông;

Tại bản tự khai, quá trình hòa giải, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị L trình bày:

Toàn bộ diện tích đất 163m² tại thửa số 40, tờ bản đồ số 14 tại xã X (nay là phường X, thị xã N) là tài sản chung của bà và ông Đỗ Xuân T, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003. Bà không biết việc mua bán đất đai giữa chồng bà và ông D, nay bà đề nghị Tòa án giải quyết: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 372107, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00003 do UBND huyện T (nay là UBND thị xã N), tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 06/3/2007 mang tên ông Lê Văn D, để trả lại quyền và lợi ích hợp pháp cho vợ chồng bà;

Tại văn bản trình bày ý kiến số 3966/UBND-TNMT ngày 23/8/2023 UBND thị xã N trình bày:

  1. Giấy tờ về quyền sử dụng đất:

    Ông Đỗ Văn T1 được UBND huyện T (nay là thị xã N) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy: Y106213 ngày 01/10/2003, tại thửa 40, tờ bản đồ 14, diện tích 163m2, mục đích sử dụng: đất ở; Phần thay đổi sau khi cấp giấy ghi: Đã chuyển nhượng cho Ông Lê Văn D 72m² đất ở, do phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T(nay là thị xã N) xác nhận ngày 30/9/2004.

    Ông: Lê Văn D được UBND huyện T (nay là UBND thị xã N) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy: AG 3701107 ngày 6/3/2007 tai thửa 40A, Tờ bản đồ 14, diện tích 72m². Mục đích sử dụng: đất ở, mang tên Ông: Lê Văn D.

  2. Về hồ sơ địa chính qua các thời kỳ:

    Theo Bản đồ địa chính phường X phê duyệt năm 1999, tại thửa 40, tờ bản đồ số 14, diện tích 270m², trong đó: đất ở 200m², đất vườn 70m², Mục kê ghi tên Ông: Đỗ Văn T1.

    Theo Bản đồ hiện trạng phường X phê duyệt năm 2011, gồm 02 thửa: thửa số: 42, tờ bản đồ số 111, diện tích nguyên thửa là 324,1 m² (cả phân lưu không quốc lộ A), mang tên ông Đỗ Xuân T và thửa số: 04, tờ bản đồ số 118, diện tích nguyên thửa là 186,4m² (cả phần lưu không quốc lộ A) mang tên ông Lê Văn D;

    Theo báo cáo của UBND phường X tại Công văn số 251/UBND ngày 22/8/2023, UBND phường đã kiểm tra xác minh về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đối với thừa đất ông Đỗ Xuân T đang khởi kiện là thửa đất ở có nguồn gốc là đất của ông Đỗ Xuân T, do UBND xã X giao đất không đúng thẩm quyền giai đoạn từ trước ngày 15/10/1993. Đến năm 2003 được UBND huyện T (nay là UBND Thị xã N) cấp giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ cấp giấy: Y 106213, tại thừa 40, to bản đồ 14, diện tích 163m², mục đích sử dụng: đất ở, mang tên Ông: Đỗ Văn T1. UBND phường X trên quan điểm hòa giải cơ sở để giữ mối đoàn kết, đảm bảo an ninh địa phương, đã tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng không thành, do các bên không thống nhất.

    Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn D: Trên cơ sở hồ sơ chuyển nhượng giữa hai hộ gia đình (Đơn chuyển nhượng, hợp đồng chuyển nhượng, biên lai nộp tiền thuế) UBND xã X đã xác nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho Ông Lê Văn D, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSD đất không xảy ra tranh chấp, không có kiến nghị hay khiếu nại gì liên quan đến thửa đất đã cấp cho ông Lê Văn D, nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ông Lê Văn D là đủ điều kiện, đúng quy định.

  3. Quan điểm của UBND thị xã N. UBND thị xã N xác định đây là trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét, giải quyết theo quy định tại Khoản 1, Điều 203 Luật đất đai năm 2013 "Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết".

Tại văn bản trình bày ý kiến số 251/UBND ngày 22/8/2023 UBND phường X, thị xã N trình bày:

  1. Về hồ sơ địa chính qua các thời kỳ:

    Theo bản đồ hiện trạng phường X phê duyệt năm 1999, tại thửa 40, tờ bản đồ số 14, diện tích 270m², trong đó: Đất ở 200m², đất vườn 70m², mục kê ghi tên Ông: Đỗ Văn T1.

    Theo Bản đồ hiện trạng phường X phê duyệt năm 2011, gồm 02 thửa: thửa số: 42, tờ bản đồ số 111, diện tích là 324,1m², mang tên ông Đỗ Xuân T (Diện tích đo cả phần lưu không quốc lộ 1 A và đất Ông T lấn ra đất nuôi trồng thủy sản) và thửa số: 04, tờ bản đồ số 118, diện tích là 186,4m² mang tên ông Lê Văn D (Diện tích đo cả phần lưu không quốc lộ 1 A và đất Ông D lấn ra đất nuôi trồng thủy sản).

    Giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ cấp giấy : Y 106213 do UBND huyện T cấp ngày 01/10/2003 tại thứa 40, Tờ bản đồ 14, diện tích 163m². Mục đích sử dụng : đất ở, mang tên Ông: Đỗ Văn T1; Phần thay đổi sau khi cấp giấy ghi: Đã chuyển nhượng cho Ông Lê Văn D 72m² đất ở, do phòng TNMT xác nhận ngày 30/9/2004.

    Giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ cấp giấy : AG 3701107 do UBND huyện T cấp ngày 6/3/2007 tại thừa 40A, Tờ bản đồ 14, diện tích 72m². Mục đích sử dụng: đất ở, mang tên Ông: Lê Văn D;

  2. Về nguồn gốc sử dụng đất: Qua kiểm tra hồ sơ địa chính lưu tại phường X qua các thời kỳ, quá trình sử dụng đất của hộ gia đình. UBND phường X, đã kiểm tra xác minh về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đối với thửa đất Ông Đỗ Xuân T đang khởi kiện là thửa đất ở có nguồn gốc là đất của Ông Đỗ Xuân T, Do UBND xã X giao đất không đúng thẩm quyền giai đoạn từ trước ngày 15/10/1993. Đến năm 2003 được UBND huyện T (nay là UBND Thị xã N) cấp giấy chứng nhận QSD đất. Số vào sổ cấp giấy: Y 106213 do UBND huyện T cấp ngày 01/10/2003 tại thứa 40, Tờ bản đồ 14, diện tích 163m². Mục đích sử dụng: đất ở, mang tên Ông: Đỗ Văn T1.
  3. Ý kiến của địa phương: Về quan điểm của địa phương đối với yêu cầu khởi kiện của Ông Đỗ Xuân T. Ủy ban nhân dân phường X trên quan điểm hòa giải cơ sở để giữ mối đoàn kết, đảm bảo an ninh địa phương, UBND phường X đã tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng không thành, do các bên không thống nhất vì vậy đề nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
  4. Về việc hủy giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho Ông: Lê Văn D: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Ông: Lê Văn D. Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSD đất. Trên cơ sở hồ sơ chuyển nhượng giữa hai hộ gia đình (Đơn chuyển nhượng, hợp đồng chuyển nhượng, biên lai nộp tiền thuế), UBND xã X đã xác nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho Ông Lê Văn D, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSD đất không xảy ra tranh chấp, không có kiến nghị hay khiếu nại gì liên quan đến thửa đất đã cấp cho Ông: Lê Văn D, nên việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho Ông Lê Văn D là đủ điều kiện, đúng quy định. Việc Ông Đỗ Xuân T tố cáo Ông Lê Văn D giả mạo chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng, nội dung này Ủy ban nhân dân phường X không có cơ sở để khẳng định. Để nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét quyết định.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Áp dụng các Điều 117; 122; 123; 132; Điều 407 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26; Điều 34; Điều 37; Điều 38 và Điều 39; khoản 1, 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án; Xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Xuân T (tên gọi khác Đỗ Văn T1);

  • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 30 tháng 6 năm 2004, tại UBND xã X, huyện T ( nay là UBND phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa) giữa ông Đỗ Văn T1 và ông Lê Văn D vô hiệu.
  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 372107, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00003, tại thừa 40A, Tờ bản đồ 14, diện tích 72m², địa chỉ thửa đất: Thôn A, xã X, huyện T (N là Tổ dân phố A, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa), do UBND huyện T (nay là UBND thị xã N), tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 06/3/2007 mang tên ông Lê Văn D.
  • Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông Đỗ Văn T1 có nghĩa vụ làm thủ tục để được cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày06/02/2024, bị đơn Lê Văn D có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Bị đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm. Bị đơn cho rằng hai bên đã có chuyện nhượng đất cho nhau, tuy nhiên không còn giữ giấy giao tiền và thừa nhận chữ ký tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/6/2004 không phải do ông T1 ký. Ông D xác nhận tại cấp sơ thẩm đã được Tòa án giải thích nhưng ông không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định ông T1 không ký tên trong hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 30/6/2004. Ông D cũng không cung cấp được cho Tòa án giấy biên nhận tiền của các bên. Kể từ thời điểm năm 1994 đến nay, ông T1 vẫn đang là người trực tiếp sử dụng toàn bộ diện tích đất. Do đó, ông D kháng cáo là không có căn cứ để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử, bác kháng cáo của ông D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận và trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt của cơ quan có thẩm quyền. Ông Đỗ Xuân T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 372107 do UBND huyện T (Nay là UBND thị xã N) cấp ngày 6/3/2007 tai thừa 40A, Tờ bản đồ 14, diện tích 72m², địa chỉ thửa đất: Thôn A, xã X, huyện T (N là tổ dân phố A, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa). Mục đích sử dụng: đất ở, mang tên Ông: Lê Văn D. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thụ lý giải quyết sơ thẩm là đúng thẩm quyền, theo khoản 5 Điều 26; Điều 34; Điều 37; Điều 38 và Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Văn D khẳng định ông Đỗ Xuân T và ông Đỗ Văn T1 là một người, là người mà ông D có giao dịch để mua bán đất. Ông D xác nhận tại cấp sơ thẩm đã được Tòa án giải thích về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu nhưng ông không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn.

[2] Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án, báo cáo của UBND phường X tại Công văn số 251/UBND ngày 22/8/2023 về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đối với thửa đất ông Đỗ Xuân T đang khởi kiện là thửa đất ở có nguồn gốc là đất của ông Đỗ Xuân T, do UBND xã X giao đất không đúng thẩm quyền giai đoạn từ trước ngày 15/10/1993. Đến năm 2003 được UBND huyện T (nay là Thị xã N) cấp giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ cấp giấy: Y 106213, tại thừa 40, tờ bản đồ 14, diện tích 163m², mục đích sử dụng: đất ở, mang tên Ông: Đỗ Văn T1.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm ông Lê Văn D thừa nhận năm 1994 ông có qua môi giới mua một suất đất của ông T1; Theo ông D trình bày hai bên đã thỏa thuận mua bán thống nhất, ông T1 đã ra UBND xã X xin xác nhận chuyển nhượng có xác nhận và chữ ký của Chủ tịch UBND xã X, ông đã nộp thuế và phí cho xã đầy đủ. Năm 2003 ông T1 được cấp trích lục đất thì ông có làm đơn lên xã xin tách phần đất của ông T1 ra cho ông, mọi thủ tục giấy tờ ông nhờ địa chính của xã X làm, lúc đó là ông C phụ trách, đến năm 2007 ông mới được nhận sổ đỏ mang tên ông.

[4]Theo biên bản làm việc ngày 23/3/2021 tại UBND phường X, có mặt ông Lê Công C1 nguyên cán bộ địa chính có ý kiến như sau: Các giấy tờ liên quan đến chữ ký của ông T1 không thống nhất. Trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện việc ông D nhờ ông C1 làm thủ tục chuyển nhượng cho ông D, bản thân ông C1 cũng có ý kiến tại buổi làm việc và cho rằng các giấy tờ liên quan đến chữ ký của ông Đỗ Xuân T là không thống nhất. Tại thông báo kết luận giám định số 1789/TB-CSĐT ngày 21/5/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông báo cho ông Đỗ Xuân T. Căn cứ kết luận giám định số 1574/KL-KTHS ngày 05 tháng 5 năm 2022 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận như sau: Chữ ký, chữ viết “Đỗ Văn T1” dưới mục người chuyển nhượng, chủ chuyển nhượng nhà đất, đại diện bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên mẫu cần giám định ( ký hiệu A1; A2; A3; A5) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Đỗ Xuân T trên mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M6) không phải do cùng một người ký và viết ra; Chữ ký, chữ viết “Đỗ Văn T1” dưới mục đại diện bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên mẫu cần giám định ( ký hiệu A4) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Đỗ Xuân T trên mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M6) không phải do cùng một người ký và viết ra. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thống nhất với kết luận giám định và không có yêu cầu gì thêm. Trong hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D và ông T: Các văn bản có trong hồ sơ phần chữ ký, con dấu của cơ quan có thẩm quyền như Chủ tịch UBND xã, cán bộ địa chính xã, cơ quan thuế, cơ quan địa chính huyện, UBND huyện đều là chữ ký và con dấu thật, duy chỉ có chữ ký của ông T hoặc một số chữ ký của ông D là không đúng. Do vậy, không có căn cứ xác định ông Đỗ Văn T1 (Đỗ Xuân T) là người đã trực tiếp viết và ký trong mục bên chuyển nhượng của hợp đồng chuyển nhượng. Mặt khác, quyền sử dụng đất là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng ông T nhưng bà Hoàng Thị L là vợ ông T cũng không ký vào hợp đồng chuyển nhượng nên hợp đồng chuyển nhượng đã vi phạm pháp luật, không có hiệu lực.

[5] Ông D cho rằng ông đã nộp đầy đủ thuế và phí để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng ông D không có tài liệu chứng cứ nào thể hiện ông đã thanh toán tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T và ông D xác nhận việc ký hợp đồng chuyển nhượng là do ông D nhờ cán bộ làm, ông không trực tiếp tham gia. Đồng thời, kể từ thời điểm năm 1994 đến nay, gia đình ông T vẫn đang là người trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất này; ông D cho rằng ông cho ông T mượn để sử dụng, nhưng ông D không có tài liệu chứng minh việc ông T mượn quyền sử dụng đất của ông D. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/11/2023 thể hiện: Phần đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn D theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 372107, được tách ra từ thửa số 40, tờ bản đồ số 14, diện tích theo giấy chứng nhận là 72m²; diện tích thực tế là 71,2m², trên diện tích đất tranh chấp có lợp mái tôn và gia đình ông T đang sử dụng. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Xuân T và ông Lê Văn Dân 1 tại UBND xã X (nay là UBND phường X) ngày 30 tháng 6 năm 2004 không thể hiện ý chí và không phải chữ ký của bên chuyển nhượng là ông Đỗ Xuân T, vi phạm quy định của pháp luật nên hợp đồng vô hiệu theo Điều 123 của Bộ luật Dân sự.

[6]Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đỗ Văn T1 và ông Lê Văn D tại thửa đất số 40A, tờ bản đồ số 14, diện tích sử dụng 72m², (địa chỉ: Thôn A xã X, huyện T, nay là phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa) là trái quy định của pháp luật, nên ông T1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 372107 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[7]Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông D, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Từ những phân tích trên, HĐXX không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, nên giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[3]. Về án phí: Do bị đơn có kháng cáo không được chấp nhận kháng cáo nên phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn D; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
  2. Về án phí: Ông Lê Văn D phải chịu phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông D đã nộp án phí dân sự phúc thẩm, thể hiện tại Biên lai số 0000142 ngày 20/2/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điều Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 226/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger