Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Bản án số: 226/2024/DS-ST

Ngày: 03/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Mai
  2. Ông Nguyễn Xuân Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị G - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 643/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Trụ sở: 266-268 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991, địa chỉ liên hệ: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền.

(Ông M có mặt).

Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1976

Địa chỉ: 1 C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2023 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là ông Nguyên Ngọc M trình bày: Ngày 29/11/2019, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là ngân hàng) và bà Phạm Thị T (sau đây gọi tắt là bà T) có ký với nhau Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, nội dung cụ thể như sau: Ngân hàng cấp cho bà T 1 thẻ tín dụng hạn mức: 50.000.000 đồng, loại thẻ: Visa, số thẻ: 472075-0588, lãi suất: 2.6%. Căn cứ bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thì lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau, ngoài ra bà T còn phải chịu theo quy định, chi tiết lãi, phí có trong sao kê tóm tắt. Sau khi ngân hàng cấp thẻ tín dụng trên cho bà T, bà T đã thực hiện nhiều giao dịch với tổng số tiền là 1.034.991.138 đồng, đã thanh toán được 986.800.000 đồng, dư nợ còn lại là 55.524.039 đồng và sau đó không tiếp tục thanh toán mặc dù Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở, thông báo. Ngày 23/12/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà T và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại của bà T thành nợ quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T trả cho Ngân hàng tổng số nợ tạm tính đến ngày 29/02/2024 là 113.196.658 đồng trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 55.524.039 đồng, tiền lãi quá hạn là 57.672.619 đồng và tiếp tục trả tiền lãi từ ngày 01/3/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn Ngân hàng có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Ngọc M trình bày: Ngân hàng vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Tạm tính đến ngày 03/5/2024, bà T còn nợ Ngân hàng số tiền là 117.816.242 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 55.524.039 đồng và nợ lãi quá hạn là 62.292.203 đồng. Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ gốc và lãi nêu trên, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 04/5/2024 cho đến khi thanh toán xong theo lãi suất các bên thỏa thuận.

Bị đơn bà T vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên đề

nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị T trả ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tạm tính đến ngày 03/5/2024 là 117.816.242 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 55.524.039 đồng và nợ lãi quá hạn là 62.292.203 đồng, trả 01 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực đồng thời có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 04/5/2024 cho đến khi thanh toán xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả nợ gốc, lãi theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết. Do đó xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét thấy bị đơn bà Phạm Thị T có nơi cư trú tại quận T, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Trong vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền có mặt. Bị đơn vắng mặt. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án có căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 55.524.039 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/11/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm. Theo đó nguyên đơn đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 50.000.000 đồng cho bị đơn với mục đích tiêu dùng cá nhân. Theo bảng tóm tắt sao kê nợ chưa thanh toán của khách hàng Phạm Thị T thì tính đến ngày 03/5/2024 bị đơn chưa thanh toán nợ gốc là 55.524.039 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo bản Điều

khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/11/2019 nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 55.524.039 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu bị đơn trả tiền lãi quá hạn:

Ngày 23/12/2021, nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn căn cứ theo quy định Điều 23 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/11/2019 (lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 luật các tổ chức tín dụng quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N quy định: “Tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng”. Ngoài ra tại khoản 2 Điều 22 của quyết định số 04/VBHN-NHNN của Ngân hàng N ban hành ngày 24/4/2014 đã quy định nghĩa vụ của chủ thẻ như sau: “Thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho Tổ chức phát hành thẻ các khoản phí, tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ".

Từ những quy định nêu trên thì việc thỏa thuận lãi quá hạn giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi quá hạn tính đến ngày 03/5/2024 là 62.292.203 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 04/5/2024 cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Xét thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn đã lâu, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận.

[3] Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc bà Phạm Thị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 03/5/2024 là 117.816.242 (Một trăm mười bảy triệu tám trăm mười sáu nghìn hai trăm bốn mươi hai) đồng trong đó nợ gốc là 55.524.039 đồng, tiền lãi quá hạn là 62.292.203 đồng. Thanh toán một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 04/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Phạm Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 29/11/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với bà Phạm Thị T.

Thi hành tại cơ quan có thẩm quyền thi hành án dân sự.

2. Về án phí:

Bà Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.890.812 (Năm triệu tám trăm chín mươi nghìn tám trăm mười hai) đồng.

Hoàn lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.413.071 (Hai triệu bốn trăm mười ba nghìn không trăm bảy mươi mốt) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0024279 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện kiểm

sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình ;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Quang Thiện

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/DS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 226/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger