Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2025/HSST

Ngày: 21/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Oanh

Ông Nguyễn Minh Tuấn

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Kim Yến - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Hà Nội tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Phúc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 229/2025/HSST ngày 03/11/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2025/QĐXXST-HS ngày 06/11/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: LÊ ĐÌNH N, sinh ngày 30/6/1967. Giới tính: Nam; Nơi thường trú: TDP số A, phường Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê M (đã chết) và bà Tôn Thúy H; Có vợ là: Đinh Thị H1, sinh năm 1981; có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011

Tiền án, tiền sự:

  • Bản án số 174 ngày 10/6/1987 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 24 tháng tù về tội: “Cướp tài sản”, tổng cộng 48 tháng tù; Chấp hành xong hình phạt tù tháng 7/1989 (đã được xóa án tích);
  • Bản án số 193 ngày 25/4/1992 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù giam về tội: “Cướp tài sản của công dân” (đã được xóa án tích);
  • Bản án số 388 ngày 21/7/1992 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội: “Cướp tài sản của công dân” và tổng hợp với 07 năm tù của Bản án số 193 ngày 25/4/1992, tổng cộng 15 năm tù (Bản án phúc thẩm số 1659 của Tòa phúc thẩm – Tòa án nhân dân tối cao tuyên y án sơ thẩm trên); Chấp hành xong hình phạt tù ngày 9/4/2003 (đã được xóa án tích).

Bị cáo tạm giữ từ ngày 10/06/2025; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 01 - Công an thành phố H.

(Bị cáo có mặt tại phiên toà)

2. Họ và tên: PHẠM VĂN T, sinh ngày 15/02/1994. Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Thôn T, xã S, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị A; Có vợ là: Cao Thị L1, sinh năm 1996; có 02 con lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tạm giữ từ ngày 10/06/2025; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 01- Công an thành phố H.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

*Người bị hại: Bà Đỗ Thị Ú, sinh năm 1969.

Nơi thường trú : Khu 15, xã Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ở: Số 29 ngõ 129 Đại Linh, phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa)

*Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn T:

1. Ông Trần Ngọc T1 - Luật sư - Công ty L4.

Địa chỉ: Số G, K, phường Đ, thành phố Hà Nội

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Ông Nguyễn Quang T2 – Luật sư Công ty L5.

Địa chỉ: Số E, ngõ G, phố M, TDP M, phường T, Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4/2023, bà Đỗ Thị Ú (Sinh năm: 1969; HKTT: phường K, thành phố Hà Nội) và ông Nguyễn Văn H2 (Sinh năm: 1968; HKTT: phường P, thành phố Hà Nội) đã ký hợp đồng thuê nhà của bà Nguyễn Thị L2 (Sinh năm: 1958; HKTT: tổ G, phường P, thành phố Hà Nội) tại địa chỉ: Số C ngõ A phố Đ, Tổ A T, phường Đ, thành phố Hà Nội để ở. Sau khi thuê nhà, ông H2 và bà Ú đã sửa chữa và mua lắp đặt đồ máy bơm nước để cho phục vụ sinh hoạt. Đến tháng 04/2024, ông H2 và bà Ú đã cho vợ chồng Phạm Văn T thuê lại toàn bộ căn nhà trên với giá 6.000.000 đồng/tháng và đặt cọc số tiền 2.000.000 đồng. Đến tháng 08/2024, bà L2 biết việc ông H2 và bà Ú cho thuê lại căn nhà trên để kiếm lời nên bà L2 đã yêu cầu ông H2 và bà Ú trả lại căn nhà trên cho bà L2, ông H2 và bà Ú đồng ý. Sau khi lấy lại căn nhà trên thì bà Liên tiếp T3 cho vợ chồng Phạm Văn T thuê lại. Sau khi đã được bà L2 trực tiếp cho thuê nhà thì T yêu cầu bà Ú trả lại số tiền 2.000.000 đồng đã đặt cọc trước đó thì đến tháng 10/2024 bà Ú đã trả lại cho T số tiền 700.000 đồng còn nợ lại số tiền 1.300.000 đồng. Do đó, từ tháng 10/2024 đến ngày 01/6/2025, T thường xuyên nhắn tin, gọi điện cho bà Ú để yêu cầu bà Ú trả nốt số tiền 1.300.000 đồng, nhưng bà Ú hứa hẹn nhiều lần không trả.

Khoảng 16 giờ ngày 01/6/2025, T chuẩn bị sang nhà của Lê Đình N tại số nhà S, ngõ A Đại Linh - T, phường Đ, thành phố Hà Nội để lắp đặt camera cho nhà N thì vợ của T là chị Cao Thị L1 (Sinh năm: 1996; HKTT: xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) có nhắc T đòi số tiền 1.300.000 đồng mà bà Ú còn nợ (do nhà bà Ú gần nhà N). Sau đó, T đã gọi điện thoại cho bà Ú để đòi tiền, bà Ú nói không nợ gì của T, muốn bà Ú trả tiền thì T phải cho bà Ú lấy lại cái máy bơm nước đang lắp ở nhà trọ của T. Thấy vậy, T bảo bà Ú trao đổi với bà L2 để thống nhất việc máy bơm trong nhà trọ là của bà Ú hay bà L2 và nếu của bà Ú thì cứ sang gặp bà L2 để lấy về. Nghe T nói vậy thì bà Ú bảo: “Tao không cần gọi cho ai cả, cái máy bơm là của tao”. Lúc này L1 đang ở cạnh T liền cầm máy điện thoại nói: “Cô ơi, cô trả tiền cọc cho bọn cháu, đợt này bọn cháu sắp chuyển nhà, con con nhỏ nên cô chuyển cho bọn cháu” thì bà Ú bảo là “Không trả tiền” rồi tắt điện thoại. Sau đó, T điều khiển xe máy đến nhà N để lắp đặt hệ thống Camera. Khi lắp đặt C thì bị thiếu dây thít đầu nối Camera nên T đã rủ N cùng đi mua, N đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe máy chở N đi mua dây thít đầu nối Camera, khi đi đến trước cửa nhà bà Ú tại số B, ngõ A Đại Linh - T, phường Đ, thành phố Hà Nội thì thấy cửa đang mở nên T dừng xe, bảo với Nghĩa là: “Bác đứng đây đợi cháu, cháu vào lấy tiền cọc nhà bà Ú nợ cháu”, N đồng ý và đứng ở ngoài đợi. T di vào trong nhà thì thấy bà Ú đang ngồi ở ghế tầng 1. T bảo bà Ú là “Cô trả tiền cho cháu đi” thì bà Ú nói: “Tao không nợ mày, tao không trả, tao còn có cái máy bơm chỗ nhà mày, tao chưa lấy thì chưa trả tiền cho mày”. T và bà Ú cãi nhau về việc trả tiền. Lúc này thì N từ ngoài cửa đi vào quát bà Ú là “Mày nợ tiền nó thì trả cho nó đi” thì bà Ú nói lại Nghĩa là “Tao không nợ nần gì nó, tao không trả, không phải việc liên quan đến ông và ông cũng đừng tham gia vào”. Thấy bà Ú nói vậy nên ông N lao vào phía bà Ú đang ngồi trên ghế rồi dùng tay phải tát 01 cái trúng vào má trái của bà Ú. Bà Ú hô lên: “Chính ơi, cứu bà” thì ông N không đánh bà Ú nữa, T và N tiếp tục cãi vã, yêu cầu bà Ú phải trả số tiền là 1.300.000 đồng cho T. Ngay sau đó, anh Nguyễn Văn C1 (Sinh năm 1993; HKTT: Q, H, Thái Bình) đang làm ở xưởng gần nhà bà Ủ đã đi lên xem thì bà Ú bảo với anh C1 là: “Hai thằng này nó đánh bà, mày lấy điện thoại quay phim lại”. Thấy thế thì N nói với anh C1 là “Mày cứ quay đi” nhưng anh C1 không lấy điện thoại ra quay do không cầm điện thoại. Anh C1 đã khuyên can T và N bình tĩnh và không được đánh bà Ú. Sau đó, T, N và anh C1 ra ngoài cửa nói chuyện thì T có kể cho anh C1 và N nghe việc bà Ú đang nợ 1.300.000 đồng tiền cọc thuê nhà của T chưa trả nên T đến để đòi. Sau đó, anh C1 đi xuống xưởng tiếp tục làm việc. Thấy anh C1 đi xuống xưởng thì T và N tiếp tục yêu cầu bà Ú phải trả số tiền là 1.300.000 đồng cho T. Bà Ú vẫn bảo với T rằng “Tao không nợ tiền mày, tao không trả” rồi lấy điện thoại gọi cho ông H3 để nói đang bị N đánh. Thấy bà Ú nói qua điện thoại như vậy, T bực tức đi lại gần phía bên phải bà Ú và dùng tay trái tóm tóc, giật kéo tóc, kéo đầu bà Ú sang hai bên và đồng thời N cũng lao vào dùng tay phải tát liên tiếp 02 đến 03 cái vào mặt bà Ú khiến bà Ú bị đau nên đã kêu la và gọi: “Chính ơi cứu bà” thì anh C1 tiếp tục chạy lên lần thứ hai. Khi anh C1 lên thì N và T không đánh bà Ú nữa và đi ra ngoài cửa đứng. Anh C1 tiếp tục can ngăn T và N không được đánh bà Ú nữa rồi lại đi xuống xưởng để làm việc. Tuy nhiên T và N đứng ngoài cửa vẫn tiếp tục chửi bới, yêu cầu bà Ú phải trả cho T số tiền là 1.300.000 đồng nhưng bà Ú không nói gì nữa. Thấy bà Ú không nói gì, T đứng dậy từ cửa để đi vào gần bà Ú thì bà Ú lập tức vào trong bếp cầm một con dao 01 con dao dài khoảng 30 cm (trong đó chuôi bằng gỗ, dài khoảng 12 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 18 cm và đầu dao bằng, không nhọn) trên tay phải rồi nói “Đm chúng mày, chúng mày thích thì chúng mày vào đây”. Do thấy bà Ú cầm dao, N liền chửi bà Ú “Mày định chém bố mày à” và lao vào tóm, giằng, giật con dao trên tay bà Ú và ấn, đè bà Ú xuống, quá trình giật con dao từ tay của bà Ú thì N bị xước da lòng bàn tay trái. Lúc này anh C1 nghe thấy tiếng động mạnh ở trên nên đã tiếp tục lên can ngăn thì N đưa lại con dao cho anh C1. Sau đó T, N và anh C1 ra đứng ở ngoài cửa còn bà Ú lên nằm trên ghế. Thấy T và N không đánh bà Ú nữa nên anh C1 tiếp tục quay xuống xưởng làm việc. Sau đó, N bảo T tiếp tục vào yêu cầu bà Ú trả tiền nên T đi đến chỗ bà Ú và hỏi bà Ú: “thế bà có trả tiền không” thì bà Ú không nói gì, thấy thế T liền dùng tay phải tóm tóc bà Ú, giật ngửa mặt bà Ú ra phía sau rồi dùng tay trái tát liên tiếp 02 cái trúng vào má trái của bà Ú từ phía sau khiến bà Ú ngã ra, nằm trên ghế; N thấy thế thì bảo “thôi, cho nó” nên T dừng lại rồi cả hai cùng ra về.

Sau khi xảy ra sự việc bà Ú được người nhà đưa đến bệnh viện Đ để điều trị thương tích. Đến ngày 09/6/2025, bà Ú đã đến Công an phường Đ, thành phố Hà Nội để trình báo sự việc.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn T và Lê Đình N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng: 01 con dao dài khoảng 30 cm, trong đó chuôi bằng gỗ, dài khoảng 12 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 18 cm (đầu dao bằng, không nhọn); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng.

Ngày 10/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đã tiến hành trưng cầu Trung tâm Pháp y Hà Nội giám định thương tích đối với bà Đỗ Thị Ú, tuy nhiên bà Ú cương quyết từ chối giám định thương tích. Do đó, không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Ú.

Đối với chiếc máy bơm nước ở nhà trọ của T, Cơ quan điều tra xác định chiếc máy bơm nước này là do ông H3 là người bỏ tiền ra mua. Tại Cơ quan điều tra, ông H3 không có yêu cầu đề nghị gì và xin được tự thỏa thuận.

Đối với số tiền 1.300.000 đồng mà T đã đặt cọc khi thuê nhà hiện ông Nguyễn Văn H3 đang giữ, xét thấy đây là thỏa thuận dân sự của hai bên, bản thân T cũng không có yêu cầu đề nghị gì, do đó cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý.

Đối với bà Đỗ Thị Ú cầm dao với mục đích phòng thân, không để Phạm Văn T và Lê Đình N tiếp tục lao vào tấn công, đánh mình. Bà Ú cũng không gây ra thương tích gì cho T và N. Việc N bị xước da lòng bàn tay trái khi giật dao của bà U là do N tự gây ra, bản thân N cũng không có yêu cầu đề nghị gì và từ chối giám định thương tích. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà Ú.

Đối với chị Cao Thị L1, quá trình điều tra xác định chị L1 chỉ bảo T gọi điện thoại bảo bà Ú trả lại số tiền 1.300.000 đồng. Chị L1 không kích động, xúi giục T và N đến đánh bà Ú để đòi tiền. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với L1.

Lời khai nhận tội của Phạm Văn T và Lê Đình N phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tài liệu điều tra khác.

Về dân sự: gia đình bị can Phạm Văn T và Lê Đình N đã bồi thường viện phí và tổn thất tinh thần cho bà Đỗ Thị Ú số tiền là 80.000.000 đồng. Bà Ú không có yêu cầu gì khác về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can T và N.

Bản cáo trạng số 22/CT-VKS-KV4 ngày 30/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Văn T và Lê Đình N về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Phạm Văn T và Lê Đình N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 điều 168; điểm s, b, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án;

Áp dụng khoản 1 điều 168; điểm s, b, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình N mức án từ 36 đến 39 tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài khoảng 30cm trong đó chuôi dao bằng gỗ, dài khoảng 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 18cm (đầu dao bằng, không nhọn) thu giữ của bà Đỗ Thị Ú; Trả lại bị cáo Phạm Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu vàng do không có liên quan đến hành vi phạm tội.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn T - Luật sư Trần Ngọc T1 và luật sư Nguyễn Quang T2 có ý kiến: Bị cáo Phạm Văn T khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã nhờ gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Gia đình bị cáo có công với cách mạng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo T là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo ở nhà không có việc làm, hai con bị cáo còn nhỏ. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm b,h,i,s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo; đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo T mức án 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Người bị hại bà Đỗ Thị Ú có ý kiến: bà đã nhận bồi thường, không yêu cầu gì khác về dân sự, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người bào chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Nội đã truy tố, phù hợp với kết luận điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 01/6/2025, Phạm Văn T và Lê Đình N đã có hành vi sử dụng vũ lực (dùng tay tát vào mặt, dùng tay giật kéo tóc, kéo đầu) đối với bà Đỗ Thị Ú nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 1.300.000 đồng, tài sản chưa chiếm đoạt được.

Mặc dù các bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản của bà Đỗ Thị Ú, nhưng hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc đối với người bị hại mục đích để chiếm đoạt tài sản đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân. Hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Văn T và Lê Đình N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hà Nội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn T và Lê Đình Nghĩa L3 nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, có nhận thức xã hội dù biết hành vi đã thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, ảnh hưởng xấu đến xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử có xem xét thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối của các bị cáo, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại về tài sản, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; đối với bị cáo T: có bà nội là Nguyễn Thị C2 được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì; đối với bị cáo N: có ông nội là liệt sỹ Lê C3; Bản thân bị cáo Phạm Văn T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự để áp dụng điểm s, b, h khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, xét tính chất và vai trò của từng bị cáo trong vụ án Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo có vai trò ngang nhau, tuy nhiên về nhân thân bị cáo Lê Đình N nhân thân có 03 tiền án về tội xâm phạm quyền sở hữu, mặc dù đã được xóa án tích nhưng cho thấy bị cáo đã được giáo dục bằng pháp luật nhiều lần nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội lần này. Do vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo N cao hơn bị cáo T và cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo N.

Đối với bị cáo Phạm Văn T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS nên không cần thiết phải cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung đồng thời thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Về dân sự: người bị hại bà Đỗ Thị Ú đã nhận bồi thường số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) từ gia đình bị cáo Phạm Văn T và Lê Đình N, không còn yêu cầu gì về dân sự nên không xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao dài khoảng 30cm trong đó chuôi dao bằng gỗ, dài khoảng 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 18cm (đầu dao bằng, không nhọn) cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu trắng, Imei 353897109764854 thu giữ của Phạm Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T và Lê Đình N phạm tội “Cướp tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 168, Điểm s, b, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Đình N;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 168, Điểm s, b, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 299 và khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T;
  • - Áp dụng Điều 46, 47, 48; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Áp dụng Khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí.

Xử phạt bị cáo Lê Đình N 37 (Ba mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2025

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 60 tháng kể từ ngày Tòa tuyên án sơ thẩm.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phạm Văn T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Phạm Văn T về Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.Về trách nhiệm dân sự: không giải quyết.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao dài khoảng 30cm trong đó chuôi dao bằng gỗ, dài khoảng 12cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 18cm (đầu dao bằng, không nhọn)
  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu trắng, Imei 353897109764854 đã qua sử dụng.

Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Hà Nội theo biên bản về việc giao nhận vật chứng số 73 ngày 18/11/2025

4. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T và Lê Đình N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn T và Lê Đình N, người bị hại bà Đỗ Thị Ú có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người bị hại
  • - Người bào chữa
  • - VKSND khu vực 4 - Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND Tp Hà Nội.
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Hà Nội.
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng TAND khu vực 4 - Hà Nội.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Lê Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2025/HSST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI về cướp tài sản

  • Số bản án: 226/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger