Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2025/DS-PT.

Ngày 21/3/2025.

V/v kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng

đất, quyền sở hữu nhà”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân.

Các Thẩm phán:

  1. Bà Doãn Thị Kim Thúy.
  2. Ông Nguyễn Tiến Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 đến 21/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 1005/DSPT ngày 02/12/2024 về việc “chấp về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 633/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú bị kháng cáo và kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 879/2024/QĐ-PT ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc O, sinh năm: 1954;

Địa chỉ: 7 B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt;

Người bảo vệ quyền quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phan Thanh H - Văn phòng L2 - Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: A N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

*Bị đơn: Ông Võ Văn V, sinh năm: 1959; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: 7 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Trà M, sinh năm: 1994; địa chỉ: A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Huỳnh Ngọc H1, sinh năm: 1942; có mặt. Địa chỉ: F T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Ngọc H1: Bà Phạm Đoàn Thanh D, sinh năm: 1986; địa chỉ: D D, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
  3. Bà Huỳnh Ngọc N, sinh năm: 1948; vắng mặt.
  4. Bà Huỳnh Ngọc N1, sinh năm: 1956; vắng mặt.
  5. Ông Huỳnh Văn H2, sinh năm: 1961; vắng mặt.
  6. Ông Huỳnh Văn H3, sinh năm: 1963; vắng mặt.
  7. Ông Huỳnh Văn K, sinh năm: 1966; vắng mặt. Cùng địa chỉ: 3 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  8. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm: 1950; vắng mặt. Địa chỉ: 3 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  9. Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm: 1951; vắng mặt. Địa Chỉ: B Ấp B, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  10. Bà Huỳnh Ngọc Y, sinh năm: 1957; vắng mặt. Địa chỉ: Số I Đường số E, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  11. Bà Huỳnh Ngọc T2, sinh năm: 1959; vắng mặt. Địa chỉ: 3 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  12. Người đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Ngọc N, bà Huỳnh Ngọc N1, ông Huỳnh Văn H2, ông Huỳnh Văn H3, ông Huỳnh Văn K, ông Huỳnh Văn T, ông Huỳnh Văn T1, bà Huỳnh Ngọc Y, bà Huỳnh Ngọc T2: Bà Huỳnh Ngọc O, sinh năm: 1954; địa chỉ: 7 B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và bà Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1942; địa chỉ: F T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (bà O, bà H1 có mặt)
  13. Bà Phạm Thị N2, sinh năm 1963; vắng mặt.
  14. Ông Võ Long P, sinh năm 1989; vắng mặt.
  15. Trẻ Võ Ngọc Bảo Q, sinh năm 2016 (do ông Võ Long P là người đại diện hợp pháp). Cùng địa chỉ: D H (số C 7 T), phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  16. Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị N2, ông Võ Long P: Ông Triệu Anh T3, sinh năm 1997; địa chỉ: 4 T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
  17. Ông Võ Bá T4, sinh năm 1942; vắng mặt. Địa chỉ: A ấp B, phường A, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  18. Bà Võ Thị Ngọc S, sinh năm 1945; xin vắng mặt. Địa chỉ: B B, phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, xin vắng mặt.
  19. Ông Võ Văn H4, sinh năm 1953; xin vắng mặt. Địa chỉ: C Hương lộ A, xã T, huyện G, Tỉnh Tiền Giang.
  20. Bà Võ Thị Ngọc T5, sinh năm 1955; xin vắng mặt. Địa chỉ: K, Thị trấn V, huyện G, Tỉnh Tiền Giang.
  21. Ông Võ Thành C, sinh năm 1953; xin vắng mặt. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Tỉnh Tiền Giang. xin vắng mặt.
  22. Bà Võ Thị Kim L, sinh năm: 1985; vắng mặt. Địa chỉ: 7 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  23. Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị Kim L: Bà Nguyễn Trà M, sinh năm 1994; địa chỉ: A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc O.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28/5/2008, Đơn khởi kiện đề ngày 09/5/2016, Đơn yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 05/4/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc O trình bày:

Bà O là con của cụ Huỳnh Văn C1 (chết năm 1987) và cụ Võ Thị A (chết năm 2007). Cha mẹ bà có 11 người con gồm các ông bà: Huỳnh Ngọc O, Huỳnh Ngọc H1, Huỳnh Ngọc N, Huỳnh Văn T, Huỳnh Văn T1, Huỳnh Ngọc N1, Huỳnh Ngọc Y, Huỳnh Ngọc T2, Huỳnh Văn H2, Huỳnh Văn H3, Huỳnh Văn K.

Quá trình chung sống, cha mẹ bà có tạo lập được phần diện tích đất 3000m², thuộc sổ địa bộ 212, tờ thứ 5, bản đồ số 61, tọa lạc tại Tổ N, xã T, tỉnh Gia Định (cũ) nay thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005) tại số D H, phường T, quận T. Nguồn gốc do cha mẹ bà mua lại của cụ Võ Thị Y1 vào ngày 08/5/1959, đóng phí trước bạ tại S vào ngày 20/5/1959, quyển 245 tờ 23 số 213 và đăng bộ sử dụng ngày 27/8/1959 theo Tờ Trích lục địa bộ.

Năm 1975, cha bà là cụ C1 đăng ký kê khai vào ngày 05/7/1975 với diện tích 3000m² sổ địa bộ 212, số lô 61, số tờ 5, tọa lạc tại ấp S, xã T theo Tờ đăng ký điền địa.

Năm 1999, cụ A đăng ký kê khai nhà đất cũng với diện tích toàn bộ khuôn viên 3000m² tọa lạc tại Phường A, quận T nay là phường T, quận T.

Năm 1967, cha mẹ bà có cho gia đình cụ A1 vào ở nhờ tại căn N3 (chùa K1) số G T, phường T, quân T (trong khuôn viên 3000m² của gia đình). Lúc đó, anh chị em bà đã lập gia đình, người đi làm không có mặt ở nhà thường xuyên, một hôm về nhà mẹ bà có đưa tờ giấy viết tay bảo là ba bà có ý định bán miếng đất 10 x 34m trước sân chùa cho cụ A. Vì là tài sản của ba mẹ bà nên các anh chị em bà không có ý kiến, mẹ bà bảo sao thì anh chị em bà làm vậy (đã ký tên trên giấy mua bán) nhưng thực chất chưa phải là giấy mua bán thực thụ vì lúc ký chưa có ghi ngày tháng năm, không có chữ ký của người mua và người bán trên tờ giấy này.

Đến năm 2001, cụ A1 tự xây nhà không xin giấy phép xây dựng, diện tích khoảng 4m x10m = 40m² trên phần đất có diện tích 34m x 10m = 340,5m² nằm trong khuôn viên 3000m² tọa lạc tại số nhà G T (nay là số D H), phường T, quân T. Lúc đó gia đình bà có ra ngăn cản thì cụ A1 đưa ra giấy tờ mua bán và nói là ba bà đã bán đất này nhưng cụ A1 chỉ đưa cho xem.

Đến năm 2007 cụ A chết, gia đình bà lục tủ ra kiểm tra giấy tờ thì thấy giấy ủy quyền ngày 28/5/1967 ủy quyền cho cụ A1 ở Chùa K1 tọa lạc tại 7 T, phường T, quận T, (không có tờ giấy mua bán đất ngày 28/5/1967). Lúc đó gia đình bà nghĩ là gia đình cụ A1 đã quản lý sử dụng không hợp pháp phần đất của cụ C1, cụ A ở địa chỉ 7 T, phường T, quận T và 7 T, phường T, quận T, nên đã làm Đơn khởi kiện đòi nhà đất ra phường và tại phường hòa giải thì phía gia đình cụ A1 (là ông Võ Bá T4) mới trình ra giấy mua bán đất ngày 28/5/1967. Do hòa giải không thành nên bà khởi kiện ra Tòa.

Nay bà yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc bị đơn trả lại toàn bộ diện tích đất 34m x 10m = 340,5m² nằm trong khuôn viên 3000m² tọa lạc tại số nhà G T, phường T, quận T cho gia đình bà.

Trong trường hợp phía bị đơn đồng ý trả lại nhà đất tại 7 T cho gia đình bà thì gia đình bà sẽ hỗ trợ cho phía bị đơn số tiền 2.500.000.000 đồng để di dời.

Đối với yêu cầu phản tố ngày 02/11/2022 của ông Võ Văn V thì bà không đồng ý.

Bà Nguyễn Trà M người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Võ Văn V trình bày:

Khoảng năm 1967, cụ C1, cụ A đã mời cụ A1 về quản lý ngôi chùa K1 Đ và cụ C1, cụ A đã bán cho cụ Anh phần đất trống cạnh chùa K1 Đ là phần đất đang tranh chấp có diện tích 340,5 m² thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005) tọa lạc tại số D H để gia đình cụ A1 sinh sống. Giấy ủy quyền đề ngày 28/5/1967 và giấy bán đất đề ngày 28/5 (không rõ năm) là các giấy tờ do cụ C1 và cụ A làm lại trước khi cụ C1 chết vào năm 1987 để thay thế cho các giấy tờ bán đất trước đây đã bị mất.

Năm 1982, cụ A1 có đăng ký kê khai diện tích đất sử dụng căn cứ theo xác nhận tại văn bản số: 1327/UBND-TCD ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân quận T. Năm 1999, cụ A1 tiếp tục đăng ký kê khai sử dụng đất căn cứ theo Tờ đăng ký nhà – đất có xác nhận ngày 10/4/2000 của Ủy ban nhân dân phường A2 và ký giáp ranh theo Giấy thỏa thuận xác nhận ranh ngày 11/07/1999 với cụ A. Cụ A xác nhận phần đất trống cạnh chùa K1 Đ đã bán cho cụ A. Từ năm 1992 đến hiện tại, cụ A1 và ông V đã đóng thuế đầy đủ cho nhà nước. Tháng 6/1993, cụ A1 tặng cho ông V phần đất diện tích 340,5 m² thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005) tọa lạc tại số D H, anh chị em ông V không có ý kiến, thừa nhận có việc tặng cho.

Năm 2006, căn nhà ông V và gia đình ở được gắn biển số nhà G T theo Giấy báo về việc gắn biển số 2116/GB-UBND ngày 6/4/2006 của Ủy ban nhân dân phường T. Đến năm 2013, Phòng Quản lý đô thị quận T cấp số nhà mới là số 4 đường H thay thế cho số cũ 7 T. Từ khi cụ A1 mua đất của cụ C1, cụ A vào khoảng năm 1967, cụ A1 xây nhà vào năm 2001 thì cụ C1 và cụ A không có bất cứ tranh chấp, không đòi đất, không cản trở việc sử dụng đất, xây dựng nhà cửa trên đất để ở và quyền định đoạt của gia đình cụ A1.

Do đó, căn cứ theo Điều 100 Luật đất đai 2013, Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, có căn cứ xác định rằng ông V đã sử dụng ổn định, liên tục khu đất 340,5 m² thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005) tọa lạc tại số D H.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông V không đồng ý, đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án vì nhận thấy phía nguyên đơn không có chứng cứ gì chứng minh nguyên đơn được Nhà nước công nhận phần đất này cũng như nguyên đơn có trực tiếp sử dụng phần đất này và bị đơn không đồng ý nhận số tiền hỗ trợ 2.500.000.000 đồng mà phía nguyên đơn đề xuất.

Ông V có đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Công nhận phần diện tích đất 340,5m² thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005) phường T tọa lạc tại số D H, phường T, quận T (theo Bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 14/01/2021) thuộc quyền sở hữu của ông Võ Văn V.
  • + Yêu cầu Tòa án chấp thuận cho ông V được quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất 340, 5m2 thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ 195 (BĐĐC 2005) nêu trên.

Bà Nguyễn Trà M người đại diện theo ủy quyền người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Kim L trình bày: Thống nhất với trình bày của ông Võ Văn V, không có ý kiến thêm, không có yêu cầu nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ngọc N, Huỳnh Văn T, Huỳnh Văn T1, Huỳnh Ngọc N1, Huỳnh Ngọc Y, Huỳnh Ngọc T2, Huỳnh Văn H2, Huỳnh Văn H3, Huỳnh Văn K (do bà Huỳnh Ngọc H1 và bà Huỳnh Ngọc O đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Bà Huỳnh Ngọc H1 và bà Huỳnh Ngọc O cùng yêu cầu gia đình cụ A1 trả lại toàn bộ phần diện tích 34m x 10m = 340,5m² nằm trong khuôn viên 3000m² tọa lạc tại số nhà G T, phường T, quận T cho gia đình các bà.

Phía bị đơn cho rằng đã mua đất của cụ C1, cụ A vào năm 1967 thì tại sao lại cho rằng giấy mua bán không biết thời gian mua để phủ nhận việc giám định chữ ký của cụ C1. Giấy mua bán và giấy ủy quyền cùng ngày 28/5/1967 nhưng chữ ký của cụ C1 trên hai văn bản khác nhau. Nếu mua bán vào năm 1967 thì lúc đó ông Huỳnh Văn K mới 01 tuổi thì làm sao ký được, đồng thời giấy mua bán năm 1967 nhưng lại đề giấy căn cước lại đề năm 1969.

Nay bà O và bà H1 đại diện cho các ông bà N, T, T1, N1, Y, T2, H2, H3, K đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị N2 do ông Triệu Anh T3 đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà N2 là vợ của ông V. Sau khi kết hôn với ông V, vợ chồng bà N2 được mẹ chồng là cụ A1 cho phần nhà và đất tại địa chỉ D H, phường T, quận T vào tháng 06/1993, thửa đất có chiều ngang mặt tiền 10m x 34m. Lúc này trên đất có các công trình nhà của cụ A1, ngôi nhà mồ cùng phần mộ của cụ Võ Văn D1 (cha của ông V, mất năm 1968). Gia đình bà N2 đã sinh sống, cư trú ổn định, không có bất kỳ tranh chấp, vướng mắc nào với các hộ gia đình xung quanh.

Hàng năm, vợ chồng bà N2 kê khai và nộp thuế sử dụng đất đầy đủ cho Nhà nước. Đến năm 2001, gia đình bà N2 xây dựng lại căn nhà trên nền nhà cũ, được Ủy ban nhân dân quận T kiểm tra, giám sát, không có bất kỳ vi phạm quy định về sử dụng đất, xây dựng, không bị phản đối, ngăn cản. Năm 2006, căn nhà được chính quyền cấp biển số nhà số G đường T. Đến năm 2013, chính quyền cấp cho căn nhà biển số nhà mới là số D đường H.

Trong suốt thời gian sinh sống tại nhà đất này, bà N2 chưa từng thấy bất kỳ tranh chấp nào xảy ra giữa cụ A với gia đình bà N2 liên quan đến nhà đất nêu trên. Cụ A và các con không có bất kỳ thông báo, tuyên bố gì về việc tranh chấp đất hay yêu cầu gia đình bà N2 rời đi. Sau khi cụ A mất, từ năm 2008 các con của cụ A mới quay về tranh chấp phần đất gia đình bà N2 đang sinh sống.

Vì gia đình bà N2 đã sinh sống ổn định trên diện tích đất trên qua nhiều thế hệ, được sự kiểm tra, giám sát và công nhận của chính quyền các cấp nên bà N2 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà O và chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Võ Văn V.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Long P do ông Triệu Anh T3 đại diện theo ủy quyền trình bày:

Anh P là con của ông Võ Văn V và bà Phạm Thị N2. Anh P được biết nhà và đất tại địa chỉ D H, phường T, quận T là của ông V do được bà nội là cụ A1 cho vào tháng 06/1993. Sau khi được bà nội cho đất, ông V sửa lại căn nhà và sinh sống, cư trú ổn định, không có bất kỳ tranh chấp, vướng mắc nào với các hộ gia đình xung quanh. Hàng năm, ông V thực hiện đăng ký kê khai và nộp thuế sử dụng đất đầy đủ cho Nhà nước.

Năm 2001, ông V cho xây dựng lại căn nhà trên nền nhà cũ, được chính quyền địa phương kiểm tra, giám sát, không có bất kỳ vi phạm quy định về sử dụng đất, xây dựng, không gặp sự ngăn cấm, cản trở của bất kỳ ai.

Năm 2006, căn nhà được chính quyền cấp biển số nhà số G đường T. Đến năm 2013, chính quyền cấp biển số nhà mới là số 04 đường H.

Trong thời gian sinh sống tại nhà đất này, anh P chưa từng thấy bất kỳ tranh chấp nào xảy ra giữa cụ A với gia đình ông V liên quan đến nhà đất nêu trên. Cụ A và các con không có bất kỳ thông báo, tuyên bố gì về việc đòi lại đất hay yêu cầu gia đình ông V rời đi. Sau khi cụ A mất, từ năm 2008 các con của cụ A mới quay về tranh chấp đất với gia đình ông V.

Trong vụ án này, anh P đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà O và chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông V.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Bá T4 xin vắng mặt và có ý kiến trình bày:

Vào năm 1967, mẹ ông là cụ Nguyễn Thị A1 được cụ Huỳnh Văn C1 và cụ Võ Thị A ủy quyền cho thửa đất dài 34m, ngang 18m để xây chùa (tu tại gia). Cũng trong năm 1967, mẹ ông đã mua miếng đất của cụ C1, cụ A – kế bên miếng đất mà cụ C1, cụ A đã ủy quyền, có kích thước ngang 10m, dài 34m (nay là D H, phường T) để làm ngôi nhà mồ cho cha ông. Đến năm 2014, thực hiện yêu cầu của Ủy ban nhân dân phường T gia đình đã di dời cốt của cha ông về quê chôn cất, hiện vẫn còn nhà mồ tại đây.

Giấy bán đất được cụ A và các con của cụ C1, cụ A viết, ký tên, mỗi bên giữ một bản. Giấy bán đất ghi ngày 28/5/1967 mà căn cước ghi cấp năm 1969, (vì thời gian này đổi căn cước, khi viết giấy mua bán chừa số lại, khi phát căn cước mới ghi số vào, căn cước cũ của cụ A ở tỉnh Gò Công, quận H nên ngày cấp căn cước của cụ C1 là ngày 17/10/1969, của cụ A là 18/10/1969).

Phía sau chùa có ruộng lúa 10.000m² của bà Lê Thị T6 là mẹ của bà Ôn X, cũng giao cho mẹ ông 2.000m² làm lúa để sinh sống, do nước ngập cao không làm lúa được nên cụ A1 đã chuyển sang trồng rau muống. Đến năm 1975, bà Ôn X đi nước ngoài, cụ A đã giao ruộng rau muống cho Tập đoàn G1 và Tập đoàn G1 đã giao cho ông canh tác 2.000m² ruộng rau muống này để đóng sản phẩm cho Tập đoàn G1. Trong 2.000m² đất này có nền đất cao, không trồng rau được nên cụ A đã làm nhà vệ sinh, nhà để củi và nhà ăn. Đến năm 1990, chính quyền thu hồi lại đất và tiến hành lấp mặt bằng, bán nền nhà.

Năm 1983, nhà nước có chiến dịch đăng ký nhà đất nên cụ A1 đã kê khai diện tích 1.554m² và nộp thuế từ năm 1992 đến nay. Năm 1999, cụ A1 đã tiến hành đăng ký nhà đất và được Ủy ban nhân dân Phường A2, quận T xác nhận ngày 10/4/2000. Ông xác nhận vào tháng 6/1993, mẹ ông là cụ A1 đã cho em ông là ông Võ Văn V một miếng đất tại nhà số G T, phường T, quận T thuộc thửa đất số 5, 14, 17, 18 MP đường, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005), nhà đất này hiện do vợ chồng ông V, bà N2 quản lý, sử dụng.

Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do phần đất trên là do mẹ ông đã mua của cụ C1 và cụ A từ năm 1967, có làm giấy tờ mua bán và cụ A1 đã sinh sống ổn định trên đất từ năm 1967 cho đến khi cụ A1 mất (chết năm 2010).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Thành C xin vắng mặt và có ý kiến trình bày:

Phần đất 34m x 10m = 340,5m² tọa lạc tại 7 T, phường T, quận T do mẹ ông là cụ A1 mua năm 1967 bằng giấy tay, chưa làm thủ tục sang tên, cụ A1 đã sử dụng từ năm 1967. Hiện nhà đất này do ông V và gia đình ông V đang thực tế quản lý, sử dụng. Lúc cụ A1 còn sống đã cho ông V nên ông V được toàn quyền quyết định đối với nhà đất trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Ngọc T5 xin vắng mặt và có ý kiến trình bày:

Mẹ bà là cụ A1 và cụ A là hàng xóm với nhau. Trước đây (không rõ thời gian) cụ A1 có mua thửa đất 340,5m2 của cụ A, khi đó hai bên chỉ ký giấy tay, không có công chứng chứng thực. Hiện nay nhà đất 74 T do ông V quản lý, sử dụng. Khi còn sống cụ A1 đã cho ông V phần nhà đất này nên ông V được toàn quyền quyết định. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này nên yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H4 xin vắng mặt và có ý kiến trình bày

Ông là con ruột của cụ A1. Nhà, đất 74/4 T hiện do ông V và gia đình quản lý, sử dụng. Lúc còn sống cụ A1 đã cho ông V phần đất này nên ông V có toàn quyền quyết định đối với phần đất này. Ông không có ý kiến cũng như yêu cầu gì trong vụ án này nên xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Ngọc S xin vắng mặt và có ý kiến trình bày:

Bà là con ruột của cụ A1 (chết năm 2010). Ba bà là cụ Võ Văn D1 (chết năm 1968 không có giấy chứng tử). Nguồn gốc nhà đất 74/4 T là của cụ A1 mua lại của cụ C1 và cụ A, có viết giấy bán đất ngày 28/5/1967. Nhà đất này cụ A đã cho ông V nên ông V được toàn quyền quyết định, bà không có tranh chấp hay ý kiến gì và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 262/2013/DSST ngày 28/6/2013 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã xử:

  1. Xác định các ông bà Huỳnh Ngọc O, Huỳnh Ngọc H1, Huỳnh Ngọc N, Huỳnh Văn T, Huỳnh Văn T1, Huỳnh Ngọc N1, Huỳnh Ngọc Y, Huỳnh Ngọc T2, Huỳnh Văn H2, Huỳnh Văn H3, Huỳnh Văn K được hưởng di sản thừa kế do ông Huỳnh Văn C1 và bà Võ Thị A để lại là toàn bộ khuôn viên đất có diện tích 620,8m² có số nhà G T, phường T, quận T.
  2. Xác định các ông bà Võ Bá T4, Võ Văn H4, Võ Thành C, Võ Văn V, Võ Thị Ngọc S, Võ Thị Ngọc T5, Võ Thị Kim L được hưởng di sản thừa kế do bà Nguyễn Thị A1 để lại là một phần giá trị các công trình xây dựng trên khuôn viên đất có diện tích 620,8m² có số nhà G T, P.T, quận T, thành tiền là 615.530.000 đồng.

Toàn bộ khuôn viên đất và các công trình xây dựng trên đất có số nhà G T, P.T, quận T được xác định bởi các mốc giới (1,2,3,4,5) – bản đồ vị trí theo tài liệu năm 2005, có diện tích 620,8m² được thể hiện trên bản đồ hiện trạng vị trí số HĐ 112999/ĐĐBĐ_VPTT ngày 16/01/2012 do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T lập, kèm theo bản án và đây là bộ phận không thể tách rời của bản án này.

Việc phân chia di sản thừa kế do các đồng thừa kế tự thỏa thuận, trường hợp giữa các đồng thừa kế có tranh chấp về phần thừa kế được hưởng thì được giải quyết bằng vụ án khác.

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Huỳnh Ngọc O.

Buộc các ông bà Võ Bá T4, Võ Văn H4, Võ Thành C, Võ Văn V, Võ Thị Ngọc S, Võ Thị Ngọc T5, Võ Thị Kim L, Võ Thị Kiều L1 có nghĩa vụ giao trả toàn bộ khuôn viên đất có diện tích 620,8m² và các công trình xây dựng trên đất có số nhà G T, P.T, quận T cho các ông bà Huỳnh Ngọc O, Huỳnh Ngọc H1, Huỳnh Ngọc N, Huỳnh Văn T, Huỳnh Văn T1, Huỳnh Ngọc N1, Huỳnh Ngọc Y, Huỳnh Ngọc T2, Huỳnh Văn H2, Huỳnh Văn H3, Huỳnh Văn K.

Các ông Huỳnh Ngọc O, Huỳnh Ngọc H1, Huỳnh Ngọc N, Huỳnh Văn T, Huỳnh Văn T1, Huỳnh Ngọc N1, Huỳnh Ngọc Y, Huỳnh Ngọc T2, Huỳnh Văn H2, Huỳnh Văn H3, huỳnh Văn K có trách nhiệm liên đới trả cho các ông bà Võ Bá T4, Võ Văn H4, Võ Thành C, Võ Văn V, Võ Thị Ngọc S, Võ Thị Ngọc T5, Võ Thị Kim L số tiền 615.530.000 đồng.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số: 1373/2013/DSPT ngày 17/9/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xử:

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 262/2013/DSST ngày 28 tháng 6 năm 2013 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 633/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc O về việc buộc ông Võ Văn V trả lại toàn bộ diện tích đất 340,5m² nằm trong khuôn viên 3000m² tọa lạc tại số nhà G T (nay là số D H), phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Võ Văn V:
    1. Công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà cho ông Võ Văn V, đất có diện tích 340,5 m² và nhà diện tích xây dựng 88,3m², tọa lạc tại địa chỉ số D H, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc thửa đất số 18 (cũ), phân chiết thửa 18-1, 18-2, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005) theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đo vẽ ngày 14/01/2021.
    2. Ông Võ Văn V được quyền liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục về đất đai, tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

Ngày 04/9/2024, bà Huỳnh Ngọc O kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú có quyết định kháng nghị số: 33/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị đối với bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút quyết định kháng nghị số: 33/QĐKNPT-VKS-DS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú.
  • - Bà O vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc gia đình ông V phải trả lại diện tích đất tranh chấp 340,5m² và diện tích nhà thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005) phường T tọa lạc tại số D H, phường T, quận T;
  • - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không chấp nhận khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm với lý do cụ A1 đã sang nhượng đất tranh chấp từ năm 1967, việc sang nhượng đất đã hoàn thành và nhận đất và sử dụng ổn định đối với diện tích đất tranh chấp từ năm 1967 đến thời điểm tranh chấp năm 2008-2009 là trên 30 năm.
  • - Bà Phạm Đoàn Thanh D là đại diện theo ủy quyền của bà Huỳnh Ngọc H1 đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.
  • - Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn đưa ra luận cứ: Nguồn gốc đất tranh chấp là của gia đình nguyên đơn; việc bị đơn cho rằng đã nhận chuyển nhượng đất tranh chấp của nguyên đơn theo giấy sang nhượng đất ngày 28/5 không rõ năm thì qua giám định chữ ký trong giấy chuyển nhượng không phải của cụ C1; việc sang nhượng đất không được nguyên đơn thừa nhận và không có căn cứ để xác định bị đơn đã sử dụng đất tranh chấp ổn định, liên tục từ năm 1967 đến nay. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn để buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn toàn bộ diện tích đất tranh chấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến và đề nghị:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Về nội dung: Do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, chưa làm rõ quá trình kê khai, đăng ký đối với diện tích đất tranh chấp nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự để hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là trong thời hạn luật định; Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là trong thời hạn luật định nên có căn cứ để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về nội dung tranh chấp:
    1. [2.1] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát quận T thì:

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút toàn bộ quyết định kháng nghị số: 33/QĐKNPT-VKS-DS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú nên cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là có căn cứ.

    1. [2.2] Xét yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn thì:

Về nguồn gốc đất tranh chấp, các đương sự đều thừa nhận có nguồn gốc của cụ C1 và cụ A. Cụ Anh ở trên đất tranh chấp từ năm 1967, đến năm 2001 cụ A1 xây nhà nên đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Năm 1982, cụ A1 đăng ký kê khai diện tích đất sử dụng theo xác nhận tại văn bản số: 1327/UBND-TCD ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân quận T. Năm 1999, cụ A1 tiếp tục đăng ký kê khai sử dụng đất theo theo Tờ đăng ký nhà - đất có xác nhận ngày 10/4/2000 của Ủy ban nhân dân phường A2, quận T (nay là phường T, quận T). Cụ A1 và ông V nộp thuế đất từ năm 1992 đến năm 2022 theo các biên lai thu thuế tại bút lục số 509a, 509b đến bút lục 534. Tại Điều 4 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 có quy định cá nhân chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế. Như vậy, có căn cứ xác định cụ A1 là người sử dụng đất từ năm 1967 cho đến khi cụ A1 chết vào năm 2007 và sau khi cụ A1 chết ông V là người quản lý và sử dụng đất tranh chấp cho đến nay.

Do cụ A1, ông V quản lý sử dụng đất công khai, ổn định, liên tục trong thời gian dài và đủ điều kiện để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai, trong khi đó cụ C1, cụ A và các con không trực tiếp sử dụng đất và không thực hiện nghĩa vụ đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất tranh chấp theo quy định pháp luật về đất đai.

Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2008 thì bà O trình bày vào ngày 06/7/2000 cụ A (là mẹ bà O) có làm đơn khiếu nại tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà A1 nhưng không có chứng cứ để chứng minh cho việc khiếu nại của cụ A. Do các bên đương sự phát sinh tranh chấp năm 2008-2009 nên cần áp dụng quy định của Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết là có cơ sở. Theo quy định tại Điều 247 Bộ luật dân sự 2005 về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì: “Người chiềm hữu, người được hưởng lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liện tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu đối với tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu...”.

Tại giấy ủy quyền ngày 28/5/1967 (BL174) thể hiện ông Huỳnh Văn C1 đã hiến miếng đất chiều dài 34m và chiều ngang 18m để xây dựng chùa K1 Đ và giao cho bà Nguyễn Thị A1 quản lý sử dụng và cam kết không tranh chấp và gây phiền hà cho đạo giới cũng như không chịu trách nhiệm nữa. Đối với diện tích đất xây dựng chùa K1 Đạo do gia đình cụ C1 và cụ A hiến đất để xây dựng chùa, sau này gia đình cụ C1 lấy lại đất thì cụ A1 đã trả lại và hiện nay gia đình nguyên đơn đang quản lý diện tích đất này. Như vậy, có căn cứ xác định gia đình cụ A1 đã quản lý sử dụng đất liên tục từ năm 1967 cho đến thời điểm phát sinh tranh chấp là năm 2008 là trên 30 năm, trong khoảng thời gian này gia đình bà O không có tranh chấp gì.

Theo giấy bán đất ngày 28/5 không rõ năm vì bị rách phần ghi năm thể hiện: Gia đình cụ C1 và cụ A có bán cho cụ A1 diện tích đất ngang 10m và chiều dài 34m với giá 200.000đồng; giấy bán đất này có chữ ký của cụ A1, cụ A. Theo kết luận giám định số: 4740/C09B của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận chữ ký trong “Giấy bán đất” ngày 28 tháng 5 (không rõ năm vì tài liệu bị mất góc) không phải chữ ký của ông Huỳnh Văn C1 (bên bán).

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bà O là nguyên đơn thừa nhận, cụ A (là mẹ của nguyên đơn) thời gian sau này đã nhiều lần yêu cầu bà O cùng các con chung của cụ C1 và cụ A ký vào giấy bán đất. Việc này chứng tỏ việc sang nhượng diện tích đất tranh chấp giữa cụ A và cụ A1 là có xảy ra trên thực tế và gia đình bị đơn đã sử dụng ổn định liên tục từ năm 1967 đến thời điểm phát sinh tranh chấp là năm 2008.

Xét về nguồn gốc đất tranh chấp là của gia đình nguyên đơn nhưng phía nguyên đơn cũng không có giấy tờ chứng minh diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của mình, trong suốt một thời gian dài gia đình nguyên đơn không thực hiện nghĩa vụ đăng ký, kê khai đối với diện tích đất tranh chấp và gia đình bị đơn là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ đăng ký kê khai đối với diện tích đất tranh chấp. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/02/2025 thể hiện trên diện tích đất tranh chấp giáp đường H, hai bên chiều dài lô đất có cạnh giáp với đất của gia đình nguyên đơn đang quản lý thì gia đình bị đơn đã xây dựng căn nhà mồ kiên cố lâu để chôn cất chồng cụ A1. Tại thời điểm xây dựng ngôi nhà mồ phía trước giáp đường Huỳnh Văn G và căn nhà ở phía sau trên đất hiện tranh chấp thì cụ C1 và cụ A còn sống nhưng không phản đối gì; điều này chứng tỏ việc chuyển nhượng đất giữa cụ C1, cụ A cho cụ A1 là có xảy ra trên thực tế; phía sau lô đất tranh chấp thì gia đình cụ A1 đã xây dựng căn nhà cấp 4 để ở từ trước năm 1975, đến năm 2001 do nhà xuống cấp nên bị đơn đã xin sửa chữa lại căn nhà kiên cố như hiện tại nhưng phía gia đình nguyên đơn cũng không có phản đối gì.

Năm 2001, cụ A1 xây dựng nhà theo bản vẽ hiện trạng vị trí: Tường gạch, mái bê tông cốt thép, cột sắt; cụ A biết và không phản đối, không có ý kiến gì. Chứng tỏ cụ A và cụ C1 đã bán diện tích đất tranh chấp 340,5m² cho cụ A. Ngoài ra, chồng cụ A1 là cụ Võ Văn D1 (chết năm 1968) được chôn trên diện tích đất tranh chấp và xây dựng nhà mồ kiên cố từ năm 1968 có diện tích 4,2m x 5,3m = 22,26m² giáp đường H thì gia đình nguyên đơn cũng không ai có ý kiến hay phản đối gì và thời điểm năm 1968 thì cụ C1 và cụ A đều còn sống.

Như vậy, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ A1 với cụ C1, cụ A là có thật, các tình tiết phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của các đương sự. Nguyên đơn cho rằng gia đình có ngăn cản việc xây nhà của bị đơn nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có hành vi ngăn cản. Do đó, lời khai của nguyên đơn là không có căn cứ. Bên cạnh đó, theo Giấy thỏa thuận xác nhận ranh giới đất ngày 11/07/1999 về việc ký giáp ranh với cụ A, thì cụ A xác nhận phần đất trống cạnh chùa K1 Đ đã bán cho cụ A1, phần đất trống tại thời điểm này có diện tích 340,5m² đã được các đương sự thừa nhận. Do đó, có cơ sở xác định cụ A1 là chủ sử dụng đất đối với diện tích đất trên thông qua việc nhận chuyển nhượng đất năm 1967 và đã sử dụng đất ổn định liên tục trên 30 năm. Do đó, có căn cứ để áp dụng án lệ số: 33/2020/AL ngày 25/02/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không chấp nhận việc đòi lại đất khi người sử dụng đất đã sử dụng ổn định, liên tục trong thời gian dài mà bên chủ đất không có ý kiến tranh chấp trong thời gian 30 năm trở lên. Vì vậy, gia đình cụ A1 đương nhiên được xác lập quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự 2005.

Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ.

  1. [3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn:
    1. [3.1] Như phân tích ở mục [2.2] Tòa án cấp phúc thẩm xác định diện tích đất chấp thuộc quyền sử dụng đất của cụ A1. Công trình xây dựng trên đất theo bản vẽ hiện trạng ngày 14/01/2021 do Trung tâm đo đạc bản đồ, thuộc Sở T thì nhà có kết cấu tường gạch, mái bê tông cốt thép + tôn, cột gạch + sắt, sàn gỗ, tổng diện tích xây dựng 88,3m², tầng 1 và tầng lửng thuộc quyền sở hữu của cụ A1 đã được các đương sự thừa nhận. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/02/2025 thì căn nhà mồ do cụ A1 xây dựng từ năm 1968 để chôn cất cụ D1 có diện tích 4,2m x 5,3m = 22,26m² vẫn tồn tại và nay đã được sửa chữa lại cho gia đình ông V sử dụng, ranh giới đất giữa nhà nguyên đơn và bị đơn là một bức tường được gia đình bị đơn xây dựng từ lâu để phân định ranh giới đất giữa gia đình nguyên đơn và gia đình bị đơn; khi xây dựng bức tường ngăn cách thì nguyên đơn không phản đối gì cho đến thời điểm phát sinh tranh chấp.
    2. [3.2] Cụ Anh chết không để lại di chúc, hàng thừa kế thứ nhất gồm có: cha, mẹ, các ông bà Võ Bá T4, Võ Văn H4, Võ Văn V, Võ Thành C, Võ Thị Ngọc S, Võ Thị Ngọc T5, Võ Thị Kim L. Các con của cụ A1 khai cụ A1 không có cha nuôi, mẹ nuôi, cha mẹ ruột của cụ A1 các ông bà không biết tên gì, không cung cấp được giấy khai sinh, giấy chứng tử, chỉ biết là chết trước cụ A1, còn chồng cụ A1 chết trước cụ A1. Các anh chị em của ông V thừa nhận cụ A1 đã tặng cho ông V nhà, đất vào năm 1993. Do nhà đất chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận nên xác định ông Võ Văn V là người hưởng di sản thừa kế của cụ A1.

Do vào năm 1982, cụ A1 có đăng ký kê khai diện tích đất sử dụng căn cứ theo xác nhận tại văn bản số: 1327/UBND-TCD ngày 10/11/2014 của Ủy ban nhân dân quận T. Năm 1999, cụ A1 tiếp tục đăng ký kê khai sử dụng đất căn cứ theo Tờ đăng ký nhà - đất có xác nhận ngày 10/4/2000 của Ủy ban nhân dân phường A2 và ký giáp ranh theo Giấy thỏa thuận xác nhận ranh ngày 11/07/1999 với cụ A thì cụ A xác nhận phần đất trống cạnh chùa K1 Đ đã bán cho cụ A. Từ năm 1992 đến hiện nay, cụ A1 và ông V đã đóng thuế đầy đủ cho nhà nước. Do đó, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát cho rằng chưa làm rõ việc đăng ký, kê khai đối với diện tích đất tranh chấp là không có cơ sở chấp nhận.

    1. [3.3] Do các con của cụ A1 cũng có văn bản trình bày là việc sang nhượng lô đất hiện tranh chấp là được thực hiện giữa cụ A và cụ A1 từ năm 1967 nên khi gia đình bị đơn xây nhà mồ để chôn cất chồng cụ D1 là chồng cụ A1 vào năm 1968; khi cụ A1 xây nhà ở phía sau lô đất tranh chấp thì cụ C1 và cụ A cũng không có ý kiến phản đối gì, vì nếu không phải đất do cụ A1 đã nhận chuyển nhượng thì cụ A1 và cụ A đã phản đối việc xây dựng nhà mồ để chôn cất chồng cụ Anh trên đất, trong khi gia đình nguyên đơn cũng ở sát liền kề với lô đất hiện tranh chấp.

Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm cần công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp có diện tích 340,5 m², quyền sở hữu nhà diện tích 88,3m2; diện tích nhà mồ 22,26m² tọa lạc tại địa chỉ tại số D H, phường T, quận T, cho ông Võ Văn V để thực hiện các thủ tục đăng ký, kê khai theo quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ vào Điều 100 Luật đất đai năm 2013, Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ.

  1. [4] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ là không cần thiết nên Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận.
  2. [5] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá chứng cứ toàn diện để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ nên Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  3. [6] Về chi phí tố tụng: Về chi phí thẩm định giá tài sản: Tại Tòa án cấp phúc thẩm do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ nhưng do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu số tiền chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng; nguyên đơn đã nộp đủ và quyết toán xong.
  4. [7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là 300.000 đồng và phải chịu án phí đối với yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận là 300.000 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn giảm tiền án phí nên nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Do yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự 2005;
  • - Căn cứ vào Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;
  • - Căn cứ án lệ số: 33/2020/AL ngày 25/02/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Căn cứ vào Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với quyết định kháng nghị số: 33/QĐKNPT-VKS-DS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú.

- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc O, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Võ Văn V; giữ nguyên bản án sơ thẩm xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc O về việc buộc ông Võ Văn V trả lại toàn bộ diện tích đất 340,5m² thuộc thửa đất số 18 (cũ), phân chiết thửa 18-1, 18-2, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005) theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đo vẽ ngày 14/01/2021, tọa lạc tại số nhà G T (nay là số D H), phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Võ Văn V:
    1. Công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà cho ông Võ Văn V lô đất có diện tích 340,5 m² và nhà diện tích xây dựng 88,3m² và phần diện tích nhà mồ 22,26m² nằm giáp đường H tọa lạc tại địa chỉ số D H, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc thửa đất số 18 (cũ), phần chiết thửa 18-1, 18-2, tờ bản đồ số 195 (BĐĐC 2005) theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đo vẽ ngày 14/01/2021.
    2. Bị đơn hộ gia đình ông Võ Văn V được quyền liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục về đất đai, tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Huỳnh Ngọc O. Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Võ Văn V.

Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kề từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp HCM;
  • - VKSND tp HCM;
  • - TAND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Các đương sự;;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Hữu Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà

  • Số bản án: 226/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger