Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/HSST

Ngày: 23/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.

- Các Hội thẩm nhân dân:1/ Ông Tạ Văn Đài.

2/ Ông Đinh Xuân Dậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 198/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 224/TB-TA ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Như T, sinh năm 1993 tại Hà Nam; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Như D, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1967; có vợ tên: Nguyễn Thị Trâm A, sinh năm 1996 và có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị cáo được tại ngoại (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1965. (Vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

2/ Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1989. (Vắng mặt).

Địa chỉ: G, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

3/ Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1974. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

4/ Bà Đinh Thị Thúy Y, sinh năm 1992. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ H, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/5/2023, Công an huyện T phối hợp với Công an xã S tiến hành tuần tra tại khu vực ấp A, xã S, huyện T phát hiện Trần Như T đang thực hiện hành vi có dấu hiệu cho vay lãi nặng, C huyện T đã tiến hành lập biên bản, tạm giữ: 07 Tờ rơi quảng cáo; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 gắn sim số 0868266976; 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max không gắn sim; 01 xe mô tô biển số 60H1- 643.45 và triệu tập T đến Cơ quan điều tra Công an huyện T làm việc để xác minh làm rõ hành vi của T.

Quá trình xác minh xác định:

Vào khoảng đầu tháng 3/2023, Trần Như T bắt đầu hoạt động cho vay tiền để lấy tiền lãi trên địa bàn huyện T và các huyện lân cận. T sử dụng số tiền cá nhân của mình là 100.000.000 đồng làm vốn cho vay. T in tờ rơi quảng cáo việc cho vay tiền và đi phát nhiều nơi trên địa bàn huyện T và các huyện lân cận, trên tờ rơi có để lại số điện thoại của T là 0868.266.xxx và 0859306382. Khi ai có nhu cầu vay tiền thì gọi qua số điện thoại trên cho T, T sẽ gặp trực tiếp trao đổi cách thức cho vay, hình thức thanh toán với người cần vay, sau khi thống nhất thoả thuận thì T chuyển khoản số tiền vay cho khách bằng số tài khoản của T là 32322207 (ngân hàng A1), những người vay cũng trả tiền góp hàng ngày bằng cách chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng trên của T. Từ khi hoạt động cho vay đến đầu tháng 5/2023, T đã cho 08 người vay tiền, cụ thể:

Người thứ 1: Vào ngày 27/3/2023, T cho chị Nguyễn Thị D1 vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất là 365%/năm với hình thức trả góp cả tiền gốc và tiền lãi mỗi ngày số tiền là 250.000 đồng (200.000 đồng tiền vốn và 50.000 đồng tiền lãi), trả liên tục trong vòng 25 ngày và T lấy phí vay lần đầu là 200.000 đồng. Tổng số tiền chị D1 phải trả và đã trả cho T là 6.450.000 đồng gồm: 5.000.000 đồng tiền vốn, 1.250.000 đồng tiền lãi và 200.000 đồng phí vay. Ngày 16/4/2023, T tiếp tục cho chị Nguyễn Thị D1 vay số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất, hình thức trả lãi, thời hạn vay như ngày 27/3/2024. Tổng số tiền chị D1 phải trả cho T trong lần vay này là 6.250.000 đồng gồm: 5.000.000 đồng tiền vốn, 1.250.000 đồng tiền lãi, chị D1 đã thanh toán xong với T. Ngày 09/5/2023, T tiếp tục cho chị D1 vay số tiền 10.000.000 với lãi suất là 365%/năm, hình thức trả góp cả tiền gốc và tiền lãi mỗi ngày số tiền là 500.000 đồng (400.000 đồng tiền vốn và 100.000 đồng tiền lãi), trả liên tục trong vòng 25 ngày. Tổng số tiền chị D1 phải trả cho T trong lần vay này là 12.500.000 đồng gồm: 10.000.000 đồng tiền vốn, 2.500.000 đồng tiền lãi. Chị D1 đã trả vốn và lãi cho T được 03 ngày với số tiền 1.500.000 đồng (1.200.000 đồng tiền vốn và 300.000 đồng tiền lãi). T đã cho chị D1 vay tổng số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, đã thu lãi 2.800.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự là 153.437 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 2.646.563 đồng, phí vay bất hợp hợp pháp là 200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc T cho chị D1 vay là 2.846.563 đồng. Chị D1 còn nợ T số tiền vốn là 8.800.000 đồng.

Người thứ 2: Vào 12/4/2023, T cho chị Nguyễn Thị Tuyết M vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 452%/năm, hình thức trả góp cả tiền vốn và tiền lãi mỗi ngày số tiền là 300.000 đồng, trả liên tục trong vòng 21 ngày, đồng thời khi cho vay T lấy phí vay là 500.000 đồng. Tổng số tiền chị M phải trả và đã trả cho T là 6.800.000 đồng, gồm: tiền vốn 5.000.000 đồng, tiền lãi 1.300.000 đồng (tiền lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự là 57.540 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 1.242.460 đồng) và phí vay là 500.000 đồng. Ngày 01/5/2023, T tiếp tục cho chị M vay số tiền 10.000.000 với lãi suất là 417%/năm, hình thức trả góp cả tiền gốc và tiền lãi mỗi ngày số tiền là 400.000 đồng, trả liên tục trong vòng 35 ngày và khi cho vay T lấy phí là 1.000.000 đồng. Chị M đã trả vốn và lãi cho T được 10 ngày (từ ngày 01/5/2023 đến ngày 10/5/2023) cùng phí vay với tổng số tiền là 5.000.000 đồng, trong đó gồm: tiền vốn 2.857.144 đồng và tiền lãi 1.142.856 đồng (tiền lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự là 54.790 đồng, tiền lãi vượt quá quy đinh là 1.088.066 đồng) và phí vay 1.000.000 đồng. T đã cho chị M vay tổng số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất vay 452%/năm và 417%/năm, đã thu lãi 2.442.856 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự là 112.330 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 2.330.526 đồng, phí vay bất hợp pháp là 1.500.000 đồng. Như vậy tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc T cho chị M vay là 3.830.526 đồng. Chị M còn nợ T số tiền vốn là 7.142.856 đồng.

Người thứ 3: Ngày 19/4/2023, T cho chị Phạm Thị T1 vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 365%/năm, hình thức trả góp cả tiền vốn và tiền lãi mỗi ngày số tiền là 500.000 đồng cùng, trả liên tục trong vòng 25 ngày, đồng thời khi cho vay T lấy phí vay là 1.000.000 đồng. Tổng số tiền chị T1 phải trả và đã trả cho T là 13.500.000 đồng, gồm: tiền vốn 10.000.000 đồng, tiền lãi 2.500.000 đồng và phí vay là 1.000.000 đồng. Ngày 24/4/2023, T tiếp tục cho chị T1 vay số tiền 20.000.000 với lãi suất là 365%/năm, hình thức trả góp cả tiền gốc và tiền lãi mỗi ngày số tiền là 1.000.000 đồng, trả liên tục trong vòng 25 ngày và khi cho vay T lấy phí là 2.000.000 đồng. Chị T1 đã trả vốn và lãi cho T được 18 ngày cùng phí vay với tổng số tiền là 20.000.000 đồng, trong đó gồm: tiền vốn 14.400.000 đồng và tiền lãi 3.600.000 đồng và phí vay 2.000.000 đồng. T đã cho chị T1 vay tổng số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất vay là 365%/năm, đã thu tiền lãi 6.100.000 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự là 334.235 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 5.765.765 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 5.765.765 đồng, phí vay bất hợp pháp là 3.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc T cho chị T1 vay là 8.765.765 đồng, chị T1 còn nợ T số tiền vốn là 5.600.000 đồng.

Người thứ 4: Ngày 15/3/2023, T cho chị Đinh Thị Thúy Y vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 417%/năm, hình thức trả góp cả tiền vốn và tiền lãi mỗi ngày số tiền là 400.000 đồng cùng, trả liên tục trong vòng 35 ngày, đồng thời khi cho vay T lấy phí vay là 1.000.000 đồng. Tổng số tiền chị T1 phải trả và đã trả cho T là 15.000.000 đồng, gồm: tiền vốn 10.000.000 đồng, tiền lãi 4.000.000 đồng và phí vay là 1.000.000 đồng. Ngày 14/4/2023, T tiếp tục cho chị Y vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 417%/năm, hình thức trả góp cả tiền vốn và tiền lãi mỗi ngày số tiền là 600.000 đồng cùng, trả liên tục trong vòng 35 ngày, đồng thời khi cho vay T lấy phí vay là 1.500.000 đồng. Tổng số tiền chị Y phải trả và đã trả cho T là 22.500.000 đồng, gồm: tiền vốn 15.000.000 đồng, tiền lãi 6.000.000 đồng và phí vay là 1.500.000 đồng. Ngày 01/5/2023, T tiếp tục cho chị Y vay số tiền 15.000.000 với lãi suất là 417%/năm, hình thức trả góp cả tiền gốc và tiền lãi mỗi ngày số tiền là 600.000 đồng, trả liên tục trong vòng 25 ngày và khi cho vay T lấy phí là 1.500.000 đồng. Chị Y đã trả vốn và lãi cho T được 10 ngày (từ ngày 01/5/2023 đến ngày 10/5/2023) cùng phí vay với tổng số tiền là 7.500.000 đồng, trong đó gồm: tiền gốc 4.285.714 đồng và tiền lãi 1.714.286 đồng và phí vay 1.500.000 đồng. T đã cho chị Y vay tổng số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất vay 417%/năm, đã thu tiền lãi 11.714.286 đồng, trong đó tiền lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự là 561.626 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 11.152.660 đồng, phí vay bất hợp pháp là 4.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc T cho chị Y vay là 15.152.660 đồng, chị Y còn nợ T số tiền vốn là 10.714.286 đồng.

Ngoài ra T còn cho 4 người khác vay tiền với hình thức như trên, tuy nhiên T không xác định số tiền cho vay và tiền lãi cũng như không biết nhân thân lai lịch người vay nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

T đã cho chị Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị Tuyết M, Phạm Thị T1 và chị Đinh Thị Thúy Y vay với tổng số tiền vốn là 105.000.000 đồng với lãi suất từ 365%/năm đến 452%/năm, đã thu tiền lãi với tổng số tiền là 23.057.143 đồng, trong đó lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.161.628 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 21.895.515 đồng, phí vay bất hợp pháp là 8.700.000 đồng. Tổng số tiền T thu lợi bất chính từ việc cho chị D1, M, T1 và chị Y vay là 30.595.515 đồng

Ngày 23/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Như T về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự để điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra bị can Trần Như T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, bị can phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 gắn sim số 0868266976 và 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max, 07 tờ rơi quảng cáo, 01 xe mô tô biển số 60H1- 643.45.

Đối với số tiền vốn, tiền lãi hợp pháp theo quy định Bộ luật dân sự, tiền phí vay bất hợp pháp mà Trần Như T sử dụng cho vay và thu của chị Nguyễn Thị D1, Nguyễn Thị Tuyết M, Phạm Thị T1 và chị Đinh Thị Thúy Y gồm: 105.000.000 đồng tiền vốn + 1.161.628 đồng tiền lãi hợp pháp + 8.700.000 đồng phí vay bất hợp pháp = 114.861.628 đồng. Tuy nhiên, chị D1 còn nợ T 8.800.000 đồng, chị M còn nợ T 7.142.856 đồng, chị T1 còn nợ 5.600.000 đồng, chị Y còn nợ 10.714.286 đồng với tổng số tiền là 32.256.856 đồng, nên T phải nộp lại số tiền: 114.861.628 đồng – 32.256.856 đồng = 82.604.772 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội để tịch thu sung công. Chị D1 phải nộp lại số tiền 8.800.000 đồng, chị M phải nộp lại số tiền 7.142.856 đồng, chị T1 phải nộp lại 5.600.000 đồng, chị Y phải nộp lại 10.714.286 đồng để tịch thu sung công.

Đối với số tiền lãi bất hợp pháp mà Trần Như T đã thu của người vay, đề nghị Tòa tuyên buộc bị can T phải trả lại cho người vay, cụ thể: chị Nguyễn Thị D1 2.646.563 đồng; chị Nguyễn Thị Tuyết M 2.330.526 đồng; chị Phạm Thị T1 5.765.765 đồng, chị Đinh Thị Thúy Y là 11.152.660 đồng.

Đối với 07 tờ rơi quảng cáo, chuyển theo hồ sơ vụ án để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Đối với xe mô tô biển số 60H1- 643.45, Trần Như T không sử dụng vào việc phạm tội, có giấy tờ hợp pháp nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

Tại Cáo trạng số: 197/CT-VKS-TB ngày 18/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Như T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt bị cáo Trần Như T 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực tài chính, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[4]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5]. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, đã cũ, không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật bên trong điện thoại, trên khay sim có số seri: 359217078239859 và 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max màu trắng, đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, không lên nguồn, đã cũ, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật bên trong điện thoại.

Buộc bị cáo phải nộp sung quỹ nhà nước số tiền 82.604.772 đồng; buộc bà D1 phải nộp sung quỹ nhà nước số tiền 8.800.000 đồng; buộc bà M phải nộp sung quỹ nhà nước số tiền 7.142.856 đồng; buộc T1 phải nộp sung quỹ nhà nước số tiền 5.765.765 đồng; buộc bà Y phải nộp sung quỹ nhà nước số tiền 10.714.286 đồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại có số seri 8984 04800 00368 83269.

Bị cáo T phải trả lại cho bà D1 số tiền 2.646.563 đồng; trả cho bà M số tiền 2.330.526 đồng; trả cho bà T1 số tiền 5.765.765 đồng; trả cho bà Y số tiền 11.152.660 đồng.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

- Tuyên bố bị cáo Trần Như T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Như T 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, đã cũ, không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật bên trong điện thoại, trên khay sim có số seri: 359217078239859 và 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max màu trắng, đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, không lên nguồn, đã cũ, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật bên trong điện thoại.

- Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại có số seri 8984 04800 00368 83269.

- Buộc bị cáo phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 82.604.772 đồng (Tám mươi hai triệu sáu trăm lẻ bốn ngàn bảy trăm bảy mươi hai đồng);

- Buộc bà Nguyễn Thị D1 phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 8.800.000 đồng (Tám triệu tám trăm ngàn đồng);

- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 7.142.856 đồng (Bảy triệu một trăm bốn mươi hai ngàn tám trăm năm mươi sáu đồng);

- Buộc bà Phạm Thị T1 phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 5.765.765 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi lăm ngàn bảy trăm sáu mươi lăm đồng);

- Buộc bà Đinh Thị Thúy Y phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 10.714.286 đồng (Mười triệu bảy trăm mười bốn ngàn hai trăm tám mươi sáu đồng).

- Buộc bị cáo T phải trả lại cho bà Nguyễn Thị D1 số tiền 2.646.563 đồng (Hai triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn năm trăm sáu mươi ba đồng); trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 2.330.526 đồng (Hai triệu ba trăm ba mươi ngàn năm trăm hai mươi sáu đồng); trả lại cho bà Phạm Thị T1 số tiền 5.765.765 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi lăm ngàn bảy trăm sáu mươi lăm đồng), trả lại cho bà Đinh Thị Thúy Y số tiền 11.152.660 đồng (Mười một triệu một trăm năm mươi hai ngàn sáu trăm sáu mươi đồng).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Trần Như T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà D1, bà M, bà T1 và bà Y vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhân:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - CC.THADS huyện Trảng Bom;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Bá Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/HSST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 226/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA - HS - Trần Như Tùng - K1Đ201 - T08-2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger