TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 226/2024/HSST Ngày: 08/11/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hương Giang.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Long.
2. Ông Nguyễn Văn Hành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Từ Ngọc Thuý - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên: Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 226/2024/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN VĂN Q, sinh năm 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T và con bà Dương Thị S; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án: 01 tiền án, Ngày 20/6/2019, bị TAND huyện Hoài Đức, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (bản án số 55/2019/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/02/2020, đến ngày 25/9/2024 Q mới thi hành xong khoản truy nộp 700.000 đồng nên chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/9/2013 bị TAND quận Ba Đình, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (bản án số 260/2013/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2016 – đã xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/07/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.
1
2. VŨ HUỲNH VĂN H, sinh năm 1991; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Cụm A, Q, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Vũ Văn H1 (đã chết) và con bà Huỳnh Thị M; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: 02 tiền án:
- Ngày 06/12/2016, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 40 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (bản án số 464/2016/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2019, chưa được xóa án tích.
- Ngày 24/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự (bản án số 17/2022/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2024, chưa được xóa án tích.
Nhân thân:
- Ngày 03/01/2006, bị Ủy ban nhân dân huyện T, Hà Nội quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở G trong thời hạn 12 tháng.
- Ngày 31/12/2007, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999 (bản án số 387/2007/HSST);
- Ngày 29/07/2010, bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị định số 150/CP với mức phạt tiền: 350.000 đồng;
- Ngày 24/05/2012, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (bản án số 226/2012/HSST).
- Ngày 22/05/2012, bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Quyết định xử phạt hành chính số: 35766, phạt tiền: 1.500.000 đồng).
- Ngày 30/01/2016, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử miễn trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (bản án số 70/2016/HSST). Ngày 21/04/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử miễn trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (bản án số 315/2016/HSPT).
2
Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H – Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1990. Vắng mặt.
Địa chỉ: Q, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/07/2024, Nguyễn Văn Q đang ở nhà tại thôn A, xã L, H, Hà Nội thì L (Q được bạn bè giới thiệu) gọi điện thoại từ tài khoản Zalo mang tên "người vô tâm" đến nick Zalo "Quang Nguyễn" của Q nhờ mua hộ 03 viên ma túy loại "kẹo" và 01 chỉ ma túy loại "ke" thì Q đồng ý. Sau đó, Q sử dụng tài khoản zalo "Nguyễn Q" nhắn tin đến tài khoản zalo "Huy Mai" của Vũ Huỳnh Văn H để hỏi mua số lượng ma túy trên thì được H báo giá là 4.000.000 đồng. Q tiếp tục liên lạc trao đổi lại với L qua ứng dụng zalo thì L đồng ý mua số ma túy này với giá 6.000.000 đồng và hẹn Q mang ma túy đến khu vực đầu ngõ H, thuộc xã Đ, huyện T, Tp Hà Nội để giao cho L.
Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô Honda SH 125 màu trắng đen, biển kiểm soát: 29E2-064.04 đi đến nhà V Huỳnh Văn H ở Cụm A, Q, V, T, Hà Nội để mua ma túy. Khi gặp nhau do Q không có tiền để trả ngay cho H (sau khi nhận ma túy từ H) nên Q bảo H cùng đi theo Q để chờ Q bán ma túy xong thu được tiền sẽ trả luôn tiền mua ma túy là 4.000.000 đồng và cho H vay luôn số tiền lãi có được từ việc bán ma túy là 2.000.000 đồng. H đồng ý và đưa cho Q 01 túi nilong ma túy "kẹo" và 01 túi nilon ma túy "ke", Q cất số ma túy này vào túi quần và điều khiển xe mô tô đi đến khu vực xã Đ, T, Hà Nội còn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH mode, biển kiểm soát: 29K1-277.78 đi theo sau Q. Khi cả hai đi đến khu vực đường N thì Q bảo H đứng chờ còn Q tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tới khu vực ngõ H thuộc xã Đ để giao bán ma túy cho L.
Hồi 19 giờ ngày 02/7/2024, tổ công tác Công an xã Đ, Công an huyện T, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ H thuộc xã Đ, huyện T, Hà Nội, phát hiện Nguyễn Văn Q đang điều khiển xe mô tô Honda SH 125, biển kiểm soát: 29E2-064.04 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của Q có 01 túi nilon bên trong chứa 03 viên nén màu xám và 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, Q khai nhận: 01 túi nilon bên trong chứa 03 viên nén màu xám là ma túy "kẹo" và 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy "ke" Q mua của V Huỳnh Văn H để mang đi bán cho đối tượng L nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ vật chứng và đưa Q về trụ sở để làm việc.
Ngoài ra, tổ công tác đã tạm giữ của Q: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125 màu trắng đen, biển kiểm soát: 29E2-064.04 và 01 điện thoại Iphone XS Max.
Đến 19 giờ 10 phút ngày 02/7/2024, tổ công tác Công an xã Đ làm nhiệm vụ tại khu vực đường N thuộc xã Đ, huyện T, Hà Nội, tiến hành kiểm tra hành chính
3
đối với Vũ Huỳnh Văn H nhưng không phát hiện thu giữ gì. Tại chỗ, H khai nhận vừa bán cho Q 01 túi nilon bên trong chứa 03 viên nén màu xám là ma túy "kẹo", 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy "ke" với giá 4.000.000 đồng và đang đứng chờ Q trả tiền. Tổ công tác đã tạm giữ của H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu vàng nâu gắn 01 biển kiểm soát: 29K1-277.78, 01 điện thoại Iphone 14 ProMax màu tím và đưa H về trụ sở để làm việc.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Văn Q và Vũ Huỳnh Văn H, kết quả: Q và H đều dương tính với chất ma tuý.
Ngày 03/07/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma tuý đã thu giữ của Nguyễn Văn Q.
Tại bản Kết luận giám định số 5109/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- Tình thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 1,506 gam.
- 01 túi nilong có chứa:
- 02 viên nén màu xám có hình quả lựu đạn là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,106 gam.
- 01 viên nén màu xám (không rõ hình dạng) là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,395 gam.
Cơ quan giám định đã sử dụng 0,104 gam Ketamine trong tổng số 1,506 gam và sử dụng 0,333 gam MDMA trong tổng số 1,501 gam đã thu giữ của Nguyễn Văn Q để làm mẫu giám định, còn lại 1,402 gam Ketamine và 1,168 gam MDMA hoàn trả cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện T.
Tại Cơ quan Điều tra Nguyễn Văn Q và Vũ Huỳnh Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị can phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Điều tra thu thập được.
Về nguồn gốc số ma túy, H khai do bản thân nghiện ma túy nên tối ngày 30/6/2024, H đến khu vực cầu V, thuộc thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 05 viên ma túy "kẹo" và 01 chỉ ma túy "ke" với giá 5.000.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy H đã sử dụng 02 viên ma túy "kẹo" số ma túy còn lại H chưa kịp sử dụng thì Q hỏi mua nên H đã bán lại cho Q.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H, do H không biết rõ tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng L có tài khoản zalo "người vô tâm" là người hỏi mua ma túy của Nguyễn Văn Q, do Q không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể và đặc điểm nhận dạng của người này, cũng không làm rõ được chủ tài khoản zalo "Người vô tâm" do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu vàng nâu có số khung: RLHJF5156LZ006704, số máy: JF87E5222295, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Đinh Công V (SN: 1968; HKTT: Xóm T, G, G, Nam Định). Ông V giao xe cho con trai là anh Đinh Văn H2 (SN: 1996; HKTT: Giao Xuân, G, Nam Định) sử dụng. Trong quả trình sử dụng xe anh H2 đã cho chị Đỗ Thị T1 (SN:
4
1990, trú tại: V, T, Hà Nội) mượn xe. Sau đó, chị T1 lại tiếp tục cho V Huỳnh Văn H mượn xe. Trong quá trình sử dụng xe, H đã làm rơi mất biển kiểm soát 18B2-601.27 của xe, sau đó H được một người bạn (không xác định được lai lịch) cho chiếc biển kiểm soát 29K1-277.78 và H đã gắn vào xe để đi lại. Do anh H2, chị T1 không biết H sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội nên ngày 30/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã trao trả cho anh H2 chiếc xe này. Anh H2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 biển kiểm soát 29K1-277.78, quá trình điều tra xác định biển kiểm soát này được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter 2S01 màu đen bạc cho anh Hoàng Nhật B (SN: 1980, trú tại: 7/350 N, tổ G, Đ, L, Hà Nội). Hiện nay anh B vẫn đang quản lý và sử dụng chiếc xe máy có gắn biển kiểm soát trên. Do đó, cần tiếp tục tạm giữ biển kiểm soát 29K1-277.78 để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125 màu trắng đen mang BKS: 29E2-064.04 đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn V1 (SN: 1987, trú tại: xã L, H, Hà Nội). Anh V1 cho Nguyễn Văn Q mượn xe nhưng không biết Q sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 30/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã trao trả cho anh V1 chiếc xe này. Anh V1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone XS Max tạm giữ của Nguyễn Văn Q là tài sản của Q nhưng Q đã sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím tạm giữ của Vũ Huỳnh Văn H, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Đỗ Thị T1 (SN: 1990, trú tại: V, T, Hà Nội) cho H mượn nhưng chị T1 không biết việc H sử dụng chiếc điện thoại vào việc mua bán trái phép chất ma túy do đó cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với 1,402 gam Ketamine và 1,168 gam MDMA ma túy đã thu giữ của Nguyễn Văn Q còn lại sau giám định là chất độc hại, cấm lưu hành nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 226/CT-VKS-TT ngày 16 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo Vũ Huỳnh Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Văn Q từ 42 đến 45 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
5
Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Vũ Huỳnh Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo;
Về vật chứng: Áp dụng 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 1,402 gam ma túy loại Ketamine và 1,168 gam ma túy loại MDMA còn lại sau giám định; 01 biển kiểm soát 29K1-277.78.
- Tịch thu sung công quy Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone XS Max số máy: NT6H2LL/A, số seri: GR5CT1CCKPHF đã qua sử dụng tạm giữ của Nguyễn Văn Q.
- Trả lại chị Đỗ Thị T1 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím số máy: MQ9T3ZP/A, số seri: HFWLTQCWFL, IMEI: 356886323839948.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn Q và Vũ Huỳnh Văn H giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân an huyện Thanh Trì thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 02/07/2024, tại nhà của V Huỳnh Văn H ở Cụm A, Q, V, T, Hà Nội, Vũ Huỳnh Văn H đã bán cho Nguyễn Văn Q 1,506 gam ma túy loại Ketamine và 1,501 gam ma túy loại MDMA với giá 4.000.000 đồng.
Hồi 19 giờ 00 phút cùng ngày, tại khu vực ngõ H, thuộc xã Đ, huyện T, Hà Nội, khi Nguyễn Văn Q đang mang theo 1,506 gam ma túy loại Ketamine và 1,501
6
gam ma túy loại MDMA để bán kiếm lời thì bị tố công tác Công an xã Đ - Công an huyện T bắt quả tang cùng tang vật.
Hồi 19 giờ 10 phút cùng ngày, tại khu vực đường N, thuộc xã Đ, huyện T, Hà Nội, khi Vũ Huỳnh Văn H đang đứng chờ Nguyễn Văn Q để thu tiền đã bán ma túy cho Q thì bị Tổ công tác Công an xã Đ - Công an huyện T kiểm tra hành chính đến ngày 03/07/2024 bị giữ, bắt khẩn cấp.
Hành vi của bị cáo Lê Hồng H3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Vũ Huỳnh Văn H có 02 tiền án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tiếp hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đối chiếu quy định của pháp luật, Vũ Huỳnh Văn H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.
[3]. Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Ma túy là mối nguy hiểm của xã hội, bởi nó không chỉ là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức và lối sống mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là tác nhân trực tiếp làm cho tệ nạn ma túy phát triển. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm bài học răn đe người khác.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Ngoài tiền án chưa được xoá án tích thì bị cáo Q có 01 tiền án đã được xoá án tích và bị cáo H có 06 tiền án đã được xoá án tích thể hiện các bị cáo có nhân thân xấu, đã được Nhà nước giáo dục nhiều lần nhưng vẫn phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng, bị cáo Nguyễn Văn Q có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6]. Về vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có 1,402 gam ma túy loại Ketamine và 1,168 gam ma túy loại MDMA còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu huỷ.
7
Đối với 01 (một) biển kiểm soát 29K1-277.78 gắn trên chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu vàng nâu có số khung: RLHJF5156LZ006704, số máy: JF87E5222295, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone XS Max số máy: NT6H2LL/A, số seri: GR5CT1CCKPHF đã qua sử dụng tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo có sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý, xét thấy đây là tài sản của bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím số máy: MQ9T3ZP/A, số seri: HFWLTQCWFL, IMEI: 356886323839948 tạm giữ của bị cáo Vũ Huỳnh Văn H, qua quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Đỗ Thị T1. Chị T1 cho H mượn nhưng chị T1 không biết việc H sử dụng chiếc điện thoại vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần tuyên trả lại cho chị T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu vàng nâu có số khung: RLHJF5156LZ006704, số máy: JF87E5222295, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Đinh Công V (SN: 1968; HKTT: Xóm T, G, G, Nam Định). Ông V giao xe cho con trai là anh Đinh Văn H2 (SN: 1996; HKTT: Giao Xuân, G, Nam Định) sử dụng. Trong quả trình sử dụng xe anh H2 đã cho chị Đỗ Thị T1 (SN: 1990, trú tại: V, T, Hà Nội) mượn xe. Sau đó, chị T1 lại tiếp tục cho V Huỳnh Văn H mượn xe. Trong quá trình sử dụng xe, H đã làm rơi mất biển kiểm soát 18B2-601.27 của xe, sau đó H được một người bạn (không xác định được lai lịch) cho chiếc biển kiểm soát 29K1-277.78 và H đã gắn vào xe để đi lại. Do anh H2, chị T1 không biết H sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội nên ngày 30/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã trao trả cho anh H2 chiếc xe này. Anh H2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì. Tòa không xét.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125 màu trắng đen mang BKS: 29E2-064.04 đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn V1 (SN: 1987, trú tại: xã L, H, Hà Nội). Anh V1 cho Nguyễn Văn Q mượn xe nhưng không biết Q sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 30/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã trao trả cho anh V1 chiếc xe này. Anh V1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì. Tòa không xét.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H, do H khai không biết rõ tên tuổi, địa chủ, đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý. Tòa không xét.
Đối với đối tượng L có tài khoản zalo “người vô tâm” là người hỏi mua ma túy của Nguyễn Văn Q, do Q không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và đặc điểm nhận dạng của người này, cũng không làm rõ được chủ tài khoản zalo “Người vô tâm” do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Tòa không xét.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết
8
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[9].Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Văn Q và Vũ Huỳnh Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.
- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Vũ Huỳnh Văn H.
- Căn cứ 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[1]. Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/07/2024.
- Bị cáo Vũ Huỳnh Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/07/2024.
[2]. Về vật chứng
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có 1,402 gam ma túy loại Ketamine và 1,168 gam ma túy loại MDMA còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Hồng Q1, cán bộ công an xã Đ Nguyễn Trung H4, Nguyễn Văn Q và hình dấu tròn Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T; 01 biển kiểm soát 29K1-277.78.
- Tịch thu sung công quy Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone XS Max, đã qua sử dụng mặt trước bị vỡ, mặt sau màu vàng bị vỡ có chữ Iphone.
- Trả lại chị Đỗ Thị T1 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím số máy: MQ9T3ZP/A, số seri: HFWLTQCWFL, IMEI: 356886323839948.
(Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024).
[3]. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
9
quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi họ cư trú.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Lê Hương Giang |
10
Bản án số 226/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 226/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Nguyễn Văn Q và Vũ Huỳnh Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
