Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/HS-ST

Ngày 05-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Mạnh Hùng
Ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 217/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thành T, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1977 tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Số A, đường H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số D đường C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T1 và bà Ngô Thị L (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị N và 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Bị cáo có 01 tiền án. Tại bản án số 170/2001/HSPT, ngày 08/11/2001 Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phúc thẩm, xử phạt Nguyễn Thành T 48 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (chưa được xoá án tích) ; nhân thân: Bản án số 41/HSST ngày 14/3/1998 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Thành T 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 14/3/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

  2. Nguyễn Minh M, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1979 tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; chỗ ở hiện nay: Phòng trọ số 7 nhà số B đường N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng (nhà do M thuê trọ); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S; con bà Bùi Thị T2 (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 02/2018/HS-ST ngày 16/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Minh M 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2024 đến ngày 26/3/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn C, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 25 phút ngày 06/3/2024, tại khu vực đường T, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Công an thành phố H phát hiện Nguyễn Thành T có biểu hiện mua bán trái phép chất ma tuý. Tiến hành kiểm tra thu giữ: Trong túi quần của T có 01 túi nilon, kích thước khoảng 04x6,5 cm bên trong có chất bột màu trắng dạng cục (mẫu QT1); Trong ví cầm tay của T đặt trong xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS: 15K-118.65 có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng dạng cục (mẫu QT2); 02 căn cước công dân đều mang tên Nguyễn Thành T; số tiền 6.000.000đồng; 01 điện thoại di động Samsung màu đen đã qua sử dụng; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS: 15K-118.65. Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thành T tại nhà số D đường C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng, thu giữ tại góc chân cầu thang tầng ba có 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng dạng cục, nghi chất ma túy (mẫu KX).

Tại bản Kết luận giám định số 260/KL-KTHS ngày 11/3/2024 của Phòng K, Công an thành phố kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ trong túi quần của T khi bắt quả tang là ma túy Heroine, có khối lượng 2,73 gam; Chất bột màu trắng thu giữ trong ví cầm tay của T đặt trong xe ô tô khi bắt quả tang là ma túy Heroine, có khối lượng 0,98 gam; Chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của T là ma túy Heroine, có khối lượng 1,24 gam. Tổng khối lượng là 4,95 gam ma túy loại Heroine.

Như vậy, căn cứ vào lời khai của Nguyễn Thành T về việc 01 chỉ Heroine được tính tương ứng với khoảng 3,7 gam Heroine và căn cứ vào Kết luận giám định, có đủ căn cứ xác định 01 chỉ Heroine sẽ có khối lượng là 3,71 gam Heroine.

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, tại khu vực đường P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Công an thành phố H phát hiện Nguyễn Minh M có biểu hiện mua bán trái phép chất ma tuý. Tiến hành kiểm tra thu giữ: Trong tay trái của M 01 gói giấy màu trắng kích thước 01x03cm chứa chất bột màu trắng dạng cục, được bọc trong giấy bản (mẫu QT); 01 điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng; 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 thẻ căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Nguyễn Minh M; Số tiền 750.000đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo mang BKS: 16R6-4900. Tổ công tác đã đưa M cùng vật chứng về Công an phường N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Minh M tại phòng trọ số 7 nhà số B đường N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng, thu giữ trên mặt bìa quyển sổ để trên giường chất bột màu trắng dạng cục (mẫu KX); 01 điện thoại di động màu xanh có chữ Good đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 339/KL-KTHS ngày 24/3/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: Mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,12 gam, loại Heroine; Mẫu KX gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,50 gam, loại Heroine. Tổng khối lượng là 3,62 gam ma túy loại Heroine.

Xét nghiệm chất ma túy Nguyễn Thành T dương tính với chất ma túy Methanphetamine; Nguyễn Minh M dương tính chất ma túy Heroine và chất ma túy Methanphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thành T, Nguyễn Minh M khai nhận: Trưa ngày 06/3/2024, M gọi điện cho T để hỏi mua 01 chỉ Heroine, T báo giá là 3.000.000 đồng, M đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực cổng Bệnh viện P2. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, T đi xe ôm vào khu vực đường T đường H, quận L, thành phố Hải Phòng mua của một người phụ nữ tên H1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 chỉ Heroine đựng trong túi nilon với giá 2.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T có dùng tay lấy ra một ít Heroine gói vào tờ giấy và để trong ví cầm tay của T mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời, túi nilon chứa Heroine còn lại T để ở túi quần để bán cho M. Khi T về đến cổng Bệnh viện P2, T để ví cầm tay vào trong xe ô tô BKS: 15K-118.65 đỗ trong khu vực cổng Bệnh viện và đứng đợi để giao ma túy cho M thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy T để trong túi quần chưa kịp bán, T đã tự nguyện nộp gói Heroine cất trong ví cầm tay để trong xe ô tô BKS: 15K-118.65.

Ngoài ra, T và M còn khai nhận trước ngày T bị bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì T đã bán trái phép chất ma túy cho M 02 lần, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng trưa ngày 02/3/2024, M gọi điện cho T hỏi mua 01 chỉ Heroine, T đã đi xe ôm vào khu vực đường tàu ngõ 153 Đường H, quận L, thành phố Hải Phòng mua của một người phụ nữ tên H1 01 chỉ Heroine với giá 2.500.000 đồng rồi cầm đến khu vực Tượng đài nữ tướng L, quận L, thành phố Hải Phòng, bán cho M với giá 3.000.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/3/2024, M gọi điện cho T hỏi mua 01 chỉ Heroine, T cũng đi xe ôm vào khu vực đường T Đường H, quận L, thành phố Hải Phòng mua của một người phụ nữ tên H1 01 chỉ Heroine với giá 2.500.000 đồng rồi cầm đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường H với đường T, quận L, thành phố Hải Phòng, bán cho M với giá 3.000.000 đồng.

Nguyễn Thành T khai nhận 02 lần bán ma túy cho M vào ngày 02/3/2024 và 03/3/2024 T sau khi mua 01 chỉ Heroine đều về bán lại luôn cho M mà không bớt lại một phần nhỏ Heroine như ngày 06/3/2024. Ngày 06/3/2024 T mới nảy sinh ý định bớt lại một phần nhỏ Heroine để nhằm mục đích sau này bán cho người khác, hưởng thêm phần lãi từ số H2 lấy ra. Như vậy có căn cứ để xác định khối lượng ma túy T đã bán cho M vào ngày 02/3/2024 và 03/3/2024 là 01 chỉ Heroine/lần và có tổng khối lượng là 3,71 gam x 2 = 7,42 gam. Đối với Nguyễn Minh M khai nhận số ma túy mua được của T, M đã bán hết.

Đối với số ma tuý thu giữ theo lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại số D đường C, phường T, Quận L, thành phố Hải Phòng, T khai trước ngày bị bắt khoảng 01 tuần, T cũng mua của người nữ giới tên H1 nêu trên với giá 500.000 đồng để bán kiếm lời và sử dụng.

Đối với Nguyễn Minh M, ngày 06/3/2024 không thấy T đến bán ma túy cho như đã hẹn, M hiểu rằng T đã bị bắt nên vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, M một mình đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 16R6-4900 vào khu vực đường T đường H, quận L, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 chỉ Heroine với giá 3.000.000 đồng mang về phòng trọ số 7 nhà số B đường N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Tại phòng trọ số G, M dang dùng dao lam phân chia thành nhiều gói nhỏ để nhằm mục đích bán cho khách với giá 200.000 đồng 01 gói thì có khách gọi điện hỏi mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, M đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực đường V, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. M một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 16R6-4900, cầm theo 01 gói Heroine đã được chia nhỏ đến điểm hẹn để bán cho khách, khi đi đến trước cửa nhà số H đường P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng thì bị cơ quan Công an bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của các bị can Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Minh M phù hợp với nhau, phù hợp với với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, Kết quả kiểm tra điện thoại, lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó đủ cơ sở xác định:

Nguyễn Thành T đã 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Minh M, vào các ngày 02, 03 và 06/3/2024 với tổng khối lượng là 7,42 gam + 2,73 gam = 10,15 gam. Ngoài ra T còn cất giữ 0,98 gam + 1,24 gam = 2,22 gam chất ma túy để nhằm mục đích mua bán. Nguyễn Thành T phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy là 10,15 gam + 2,22 gam = 12,37 gam chất ma túy Heroine.

Nguyễn Minh M đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là số ma túy T đã bán cho M và số ma túy T mang đi bán cho M nhưng chưa kịp giao thì bị bắt; số ma túy M bị thu giữ khi bắt quả tang, khám xét nơi ở. Cụ thể là 10,15 gam + 0,12 gam + 3,50 gam = 13,77 gam chất ma túy Heroine.

Về vật chứng của vụ án: Chuyển toàn bộ phần còn lại của số ma túy sau giám định cùng các đồ vật khác và 6.750.000 đồng đến Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.

Đối với xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS 15K- 118.65 là xe của bố của Nguyễn Thành T là ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1951, ĐKHKTT: SỐ A đường H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Số D Chợ C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông T1 quản lý, sử dụng.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, BKS: 16R6-4900, qua xác minh xe có Đăng ký mang tên anh Lại Ngọc T4, sinh năm 1965, địa chỉ: Số D phố C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng. Anh T4 đã cầm cố chiếc xe trên cho người không quen biết vào khoảng tháng 3/2024; Biển kiểm soát 16R6-4900 là của chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave của chị Vũ Thị V, sinh năm 1983, địa chỉ: Số C đường N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng đã bị mất trộm vào năm 2019. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ chiếc xe trên để tiến hành xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 221/CT-VKS-P1 ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T, Nguyễn Minh M về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Thành T, Nguyễn Minh M thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đại diện Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về các kết luận giám định và khối lượng ma túy mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm có cơ hội trở về với xã hội.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai người làm chứng có nội dung như bị cáo khai nhận tại phiên toà.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 10 năm đến 11 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh M từ 09 năm đến 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo M nộp lại 2.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định, 01 thẻ nhớ.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 03 điện thoại di động.

Trả lại bị cáo M 01 Giấy chứng minh nhân dân, 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe và số tiền 750.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại bị cáo T 02 căn cước công dân và số tiền 6.000.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, kết quả kiểm tra điện thoại, lời khai người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 02/3/2024 đến ngày 06/3/2024, Nguyễn Thành T đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy được xác định là 12,37 gam chất ma túy Heroine.

Trong khoảng thời gian từ ngày 02/3/2024 đến ngày 20/3/2024, Nguyễn Minh M đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy được xác định là 13,77 gam chất ma túy Heroine.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thành T và Nguyễn Minh M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy vi phạm Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung:

Bị cáo Nguyễn Thành T đã 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Minh M, vào các ngày 02, 03 và 06/3/2024 với tổng khối lượng là 7,42 gam + 2,73 gam = 10,15 gam. Ngoài ra T còn cất giữ 0,98 gam + 1,24 gam = 2,22 gam chất ma túy để nhằm mục đích mua bán. Nguyễn Thành T phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng ma túy là 10,15 gam + 2,22 gam = 12,37 gam chất ma túy Heroine.

Nguyễn Minh M đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là số ma túy T đã bán cho M và số ma túy T mang đi bán cho M nhưng chưa kịp giao thì bị bắt; số ma túy M bị thu giữ khi bắt quả tang, khám xét nơi ở. Cụ thể là 10,15 gam + 0,12 gam + 3,50 gam = 13,77 gam chất ma túy Heroine.

Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Thành T và Nguyễn Minh M đã vi phạm điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự:

  • “b) Phạm tội 02 lần trở lên;
  • i) Heroine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”

Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy là tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy gây nguy hại cho sức khỏe và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo làm gia tăng tệ nạn ma túy. Vì vậy, cần xét xử nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thành T có 01 tiền án chưa được xoá án tích nay lại phạm tội rất nghiêm trọng nên thuộc trường hợp “tái phạm”, do vậy bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Minh M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T có bố là thương binh nên bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Vai trò của các bị cáo: Bị cáo T đi mua ma tuý về bán cho bị cáo M, bị cáo M sau khi mua ma tuý của bị cáo T về chia nhỏ và bán cho các đối tượng, như vậy hành vi của các bị cáo là ngang nhau.

[8] Về hình phạt:

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo với mức án trên khởi điểm của khung hình phạt và mức án của bị cáo Trung cao hơn mức án của bị cáo M mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[9] Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nên áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền bị cáo, Hội đồng xét xử xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên phạt mức khởi điểm 5.000.000 đồng là phù hợp.

[10] Về xử lý vật chứng và tiền thu lợi bất chính:

Số ma tuý còn lại sau giám định không được phép lưu hành, sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 thẻ nhớ thu của bị cáo T không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

03 điện thoại di động thu của các bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

01 Giấy chứng minh nhân dân, 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên bị cáo M là giấy tờ các nhân của bị cáo nên trả lại bị cáo M.

02 căn cước công dân mang tên bị cáo T là giấy tờ cá nhân bị cáo nên trả lại bị cáo T.

Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo M phải nộp lại số tiền 2.000.000 đồng thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.

Số tiền 6.000.000 đồng thu của bị cáo T và 750.000 đồng thu của bị cáo M không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án dân sự.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[13] Các vấn đề khác: Đối với người nữ giới tên H1 bán ma túy cho Nguyễn Thành T, người nam giới bán ma túy cho Nguyễn Minh M và những người đã mua ma túy của T, M, hiện chưa xác định được lý lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với ông Nguyễn Đức T1, là người đã cho Nguyễn Thành T mượn xe ô tô nhãn hiệu Kia Rio, BKS 15K- 118.65 nhưng không biết việc T đã sử dụng xe để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên không đồng phạm với M về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, xử phạt Nguyễn Thành T 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2024.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thành T 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Căn cứ điểm b, i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh M phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, xử phạt Nguyễn Minh M 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.

Phạt tiền bị cáo Nguyễn Minh M 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh M phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định đựng trong các phong bì sau: 01 (một) phong bì dán kín, trên có dấu niêm phong số 260MT/PC09 của Phòng K - Công an T và chữ ký của Đỗ Thị H3, Nguyễn Thành T, Nguyễn Văn C, Hoàng Đình T5, Nguyễn Như N1, Đỗ Hoàng C1, Hà Duy Q; 01 (một) phong bì dán kín, trên có dấu niêm phong số 339MT/PC09 của Phòng K - Công an T và chữ ký của Lê Đình T6, Bùi Đức P, Lưu Quốc P1, Nguyễn Minh M, Nguyễn Văn C, Đỗ Hoàng C1, Hà Duy Q; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu HIKVISION 32G.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, có số imeil: 352976249637054 số imei2: 354045849637050 của Nguyễn Thành T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng có số imei 355327080083049 của Nguyễn Minh M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Good màu xanh có số imeil 355230628111936, số imei2: 355230628111944 thu tại nơi ở của Nguyễn Minh M.

Trả lại bị cáo Nguyễn Thành T 02 Căn cước công dân số [...] đều mang tên Nguyễn Thành T.

Trả lại bị cáo Nguyễn Minh M 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Minh M, 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Minh M và 01 Giấy phép lại xe số AF 156356 mang tên Nguyễn Minh M.

Tạm giữ số tiền 6.000.000 đồng thu của bị cáo T và 750.000 đồng thu của bị cáo M để đảm bảo việc thi hành án dân sự.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng thể thiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và Uỷ nhiệm chi lập ngày 04/11/2024 giữa Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý với Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thành T và Nguyễn Minh M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 – TANDTC;
  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PV06 Công anTP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TPHP;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma tuý (criminal case)

  • Số bản án: 226/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 11 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger