Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 226/2024/DS-PT

Ngày: 23 - 4 - 2024

V/v Tranh chấp đòi lại quyền sử

dụng đất và yêu cầu hủy giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thuý, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 64/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 325/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Út N, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Thanh C, sinh năm 1957; địa chỉ: Số C, đường T, Khóm G, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 19/9/2022). (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Vũ P, là Luật sư – thuộc đoàn luật sư Thành phố C, (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Phạm Tấn L, sinh năm 1946. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt). Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1949. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).
  2. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1949. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).
  3. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Thanh C, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số C, đường T, Khóm G, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).
  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C: Ông Lý B, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Địa chỉ: Số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).

  3. Bà Trần Kim H, sinh năm 1951. Địa chỉ: Khóm T, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).
  4. Ông Trần Văn H1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).
  5. Bà Trần Thị M, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).
  6. Ông Trần Văn D, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (văng mặt).
  7. Bà Trần Thị B1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khóm D, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).
  8. Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Khóm T, Phường B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  9. Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Kim H, bà Trần Thị M, ông Trần Văn D, bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Kim T: Ông Trần Thanh C, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số C, đường T, Khóm G, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 19/10/2022), (có mặt).

  10. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S. Địa chỉ: Số A, đường H, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, (vắng mặt).
  11. Ông Lý Văn N1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).
  12. Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1970, (có mặt).
  13. Bà Nguyễn Thị Thúy H2, sinh năm 1990 (vắng mặt). Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).
  14. Bà Nguyễn Thị Thúy N3, sinh năm 1993 (vắng mặt). Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).
  15. Ông Nguyễn Thái S, sinh năm 1996 (vắng mặt). Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/9/2022, nguyên đơn bà Trần Thị Út N và lời trình bày của ông Trần Thanh C là người đại diện theo uỷ quyền của bà N trình bày:

Trước năm 1945, cụ Trần Văn V (cha bà N) có khai phá và sử dụng phần đất có diện tích 6.457m², tọa lạc ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (trong đó, đất vườn khoảng trên 4.500m², đất ao đìa, bờ dòng thành khoảng gần 2.000m²).

Sau 1975, cụ V lắp đất ao đìa, bờ dòng thành nhiều năm thành đất vườn trồng dừa vào những năm 2005 - 2006. Ngày 22/01/1995, cụ V được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 01177/QĐ.UBND đối với thửa đất số 168, tờ bản đồ số 01, diện tích 5.922m², tọa lạc ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng là còn thiếu 535,44m² so với thực tế đất đang canh tác và sử dụng (diện tích thực tế sử dụng là 6.457,44m²), cụ V không khiếu nại mà vẫn tiếp tục cùng bà N canh tác đất. Đến ngày 06/11/2006, cụ V cho bà N diện tích 2.415m² là một phần của thửa đất số 168 (có giấy xác nhận của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất); phần diện tích đất còn lại 535,44m² chưa lập thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, cụ V và bà N vẫn quản lý và sử dụng đến năm 2010 thì cụ V chết. Sau đó, gia đình họp gia tộc và giao phần đất còn lại 3.307m², nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 574258 thuộc thửa đất số 168 cho ông Trần Văn D (anh ruột bà N) đăng ký quyền sử dụng đất và giao bà N tiếp tục quản lý và sử dụng phần đất 535,22m² cho đến nay.

Ngày 19/11/2020, bà N phát hiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 617049 cho ông Phạm Tấn L và vợ là bà Lê Thị Đ đối với thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.597,3m², tọa lạc ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Việc cấp giấy này đã chồng lấn qua thửa đất số 168 của cụ V diện tích 535,44m².

Đầu tháng 4/2021, ông Nguyễn Văn Đ1 sử dụng phần đất tại thửa đất số 187 ngang nhiên xây hàng rào lấn ranh dài khoảng 20 mét theo hướng Đ nhìn từ hướng lộ nhựa vào; xây nhà sau về hướng Bắc Nam với chiều ngang 07m x dài 6,80 = 47,60m², chuồng heo ở phía sau nhà về hướng B với chiều ngang 2,4m x dài 8,40m = 20,16m²; tổng diện tích chung lấn chiếm là 67,76m² và một hàng rào chạy dài khoảng 20m, ông Trần Văn H1 (anh bà N) đến ngăn cản và trình báo chính quyền ấp ông T1 (Trần Thanh L1), nhưng do dịch covid-19 xảy ra chưa kịp giải quyết, ông Đ1 vẫn tiếp tục xây dựng đến nay đã hoàn thành.

Ngày 19/11/2021, bà Lê Thị Đ (là người có đất liền kề với ranh đất hàng dừa cụ V trồng) ngang nhiên vào vườn dừa do cụ V trồng hái trái dừa đem bán, ông H1 phát hiện ra can ngăn và mời chính quyền ấp ông T1 đến nhưng không lập biên bản, mà chỉ chứng kiến do dịch Covid 19 chỉ ghi nhận vụ việc trên. Bà N có gửi đơn yêu cầu UBND xã giải quyết thì trước và sau ngày 11/3/2022, UBND xã T mời ra xã hòa giải nhưng không thành, bà Đ ngang nhiên tự ý qua hàng dừa do ông V trồng cắm 2 cọc ranh ngang hai đầu (3,4m + 2,4m): 2 x chiều dài 77,60m = 225,04m².

Nguyên đơn yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 617049 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Phạm Tấn L ngày 15/10/2020 đối với phần đất có diện tích 535,44m² (nằm trong tổng diện tích 2.597,3m²) thuộc thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; Yêu cầu buộc bà Lê Thị Đồng t tháo dỡ 02 cọc ranh, ngang hai đầu (2,4m + 3,4m): 2 x 77,60m = 225,04m² đất tự bao chiếm, trong đó có hàng dừa do cụ Trần Văn V trồng. Yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Đ1 tự tháo dỡ nhà sau xây dựng ngang 07m x dài 6,80m = 47,60m²; chuồng heo ngang 2,4m x dài 8,4m = 20,16m² và hàng rào dài gần 20m, giao trả lại hiện trạng ban đầu diện tích đất 67,76m² cho gia đình bà sử dụng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông C cho rằng theo tờ bản đồ số 01 (hay còn gọi là bản đồ không ảnh 299), năm 1993 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L thửa đất số 186, diện tích 2.901m². Ngày 23/9/2020, tách thành 03 thửa đất, cụ thể: Thửa thứ nhất diện tích 2.597,3m²; thửa thứ hai diện tích 124,4m² và thửa thứ ba diện tích 504,2m²; tổng diện tích chung là 3.225,9m², thừa 324,9m². Cha ông được cấp giấy chứng nhận thửa đất số 168 vào năm 1995 là dựa vào bản đồ không ảnh 299 và phần đất tranh chấp không nằm trong bản đồ không ảnh, nên khi cấp giấy chứng nhận cho cha ông thì phần đất tranh chấp cũng không nằm trong thửa đất số 168.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết:

Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 617049 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Phạm Tấn L ngày 15/10/2020, đối với phần đất có diện tích 368,1m² (nằm trong tổng diện tích 2.597,3m²) thuộc thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

Yêu cầu buộc bà Lê Thị Đồng t tháo dỡ 02 cọc ranh, trả lại phần đất bao chiếm theo đo đạc thực tế có diện tích 268,7m², trong đó có hàng dừa do ông Trần Văn V trồng (phần 3 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất).

Yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Đ1 tự tháo dỡ nhà sau, chuồng heo để trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 99,4m² (phần 2 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất) và tự tháo dỡ hàng rào để trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 7,2m² (phần 1 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất) cho gia đình bà N sử dụng.

- Tại Văn bản phúc đáp đề ngày 11/11/2022 (BL số 143), bị đơn ông Phạm Tấn L và bà Lê Thị Đ trình bày:

Theo Đơn khởi kiện của bà N cho rằng vợ chồng ông, bà chiếm phần đất của bà N với diện tích 535,44m² là không có cơ sở. Phần đất của bà giáp ranh với đất cụ V (cha bà N) có trồng hàng dừa đến nay đã 44 năm và bán trái 39 năm, những người kế cận ai cũng đều biết.

Khi cụ V chết 11 năm nay phát sinh tranh chấp, nhưng phần đất của ông, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có đo đạc cắm móc cụ thể và ông, bà đã sử dụng ổn định 44 năm nay. Do đó, ông, bà đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà N.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L và bà Đ cho rằng phần đất tranh chấp là của gia đình ông, bà quản lý, sử dụng đã hơn 44 năm, gia đình bà N không có quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp này; quá trình sử dụng thì có cho vợ chồng ông Đ1 một phần đất cất nhà sau và chuồng heo, nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 31/8/2023 (BL số 121a), bị đơn ông Nguyễn Văn Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N2 cùng trình bày:

Phần đất tại thửa số 187, tờ bản đồ số 01, ông, bà nhận chuyển nhượng của bà Lâm Thị N4, chuyển nhượng ngang 07m, chiều dài 42m, diện tích là 294m², chuyển nhượng năm 2005, với giá 1,5 chỉ vàng 24k/m ngang, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông, bà, từ khi nhận chuyển nhượng thì ông, bà quản lý, sử dụng cho đến nay.

Phần đất phía nhà sau là đất của bà Đ và ông L, bà Đ và ông L là dì ruột của ông Đ1, nên cho cất nhà sau làm bếp nấu ăn và chuồng heo, nhưng hiện nay không còn nuôi heo; ông, bà cất nhà trên phần đất nhận chuyển nhượng không có cất lấn qua đất của cụ Trần Văn V (bà Trần Thị Út N), cất đúng ranh, khi cất nhà thì phía anh, em bà N có chứng kiến và đồng ý, nên không có lấn ranh, hàng rào nằm trên phần đất của ông, bà, nếu có dư chiều ngang thì nằm bên đất bà N4, không phải bên cụ V (bà N).

Nguyên đơn bà N yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông, bà tự tháo dỡ nhà sau xây dựng ngang 07m x dài 6,80m = 47,60m²; chuồng heo ngang 2,4m x dài 8,4m = 20,16m² và hàng rào dài gần 20m, giao trả lại hiện trạng ban đầu diện tích đất 67,76m² cho gia đình bà N sử dụng là ông, bà không đồng ý, vì không có lấn phần đất giáp ranh bà N và phần đất phía sau là do bà Đ, ông L cho ông, bà sử dụng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đ1 và bà N2 cho rằng khi cất nhà và làm cổng rào ông, bà không có lấn đất của bà N, còn phần đất phía sau là do ông L và bà Đ cho ông, bà sử dụng, nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại Công văn số 1676/STNMT-VPĐK ngày 27/6/2023 (BL số 171), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S trình bày như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 617049 đã được Sở T ký cấp ngày 15/10/2020 cho ông Phạm Tấn L thuộc thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng là đúng đối tượng và đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T2.

Theo hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận của ông L ngày 03/8/2020 thì thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 01, được cấp đổi từ thửa đất số 186, tờ bản đồ số 01 đã được cơ quan cấp giấy chứng nhận số B 617914 cấp cho ông L ngày 18/9/1993. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã N đã tiến hành đo đạc hiện trạng, có xác nhận ranh của các chủ sử dụng đất liền kề, được thể hiện thông qua bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất kèm theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 03/8/2020. Đối với yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận cấp cho ông L là do phán quyết của Tòa án. Sở T không có ý kiến về nội dung này.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, quyết định :

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1, khoản 4 Điều 34, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 2 Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; căn cứ khoản 5, khoản 7 Điều 166, Điều 202, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24 và điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Út N về việc yêu cầu Tòa án giải quyết:
    1. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 617049 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Phạm Tấn L ngày 15/10/2020, đối với phần đất có diện tích 368,1m² (nằm trong tổng diện tích 2.597,3m²) thuộc thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
    2. Yêu cầu buộc bà Lê Thị Đồng t tháo dỡ 02 cọc ranh, trả lại phần đất bao chiếm theo đo đạc thực tế có diện tích 268,7m², trong đó có hàng dừa do ông Trần Văn V trồng (phần 3 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất). Phần đất không chấp nhận có số đo tứ cận như sau: Hướng đông giáp phần đất tranh chấp với ông Nguyễn Văn Đ1 (phần 2), có số đo 6,37m. Hướng tây giáp thửa đất số 1041 của ông Phạm Tấn L, có số đo 6,91m. Hướng nam giáp thửa đất số 1041 của ông Phạm Tấn L, có số đo 49,29m. Hướng bắc giáp bà Trần Thị Út N, có số đo 4,75m + 1,59m + 47,66m.
    3. Yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Đ1 tự tháo dỡ nhà sau, chuồng heo để trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 99,4m² (phần 2 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất) và tự tháo dỡ hàng rào để trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 7,2m² (phần 1 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất) cho gia đình bà Trần Thị Út N sử dụng.

      Phần đất không chấp nhận diện tích 99,4m², có số đo tứ cận như sau: Hướng đông giáp ông Nguyễn Văn Đ1, có số đo 6,83m. Hướng tây giáp phần đất tranh chấp với ông Phạm Tấn L (phần 3), có số đo 6,37m. Hướng nam giáp thửa đất số 1041 của ông Phạm Tấn L, có số đo 2,57m + 12,53m. Hướng bắc giáp bà Trần Thị Út N, có số đo 12,42m + 0,2m + 2,14m.

      Phần đất không chấp nhận diện tích 7,2m², có số đo tứ cận như sau: Hướng đông giáp lộ B, có số đo 0,2m. Hướng tây giáp phần đất tranh chấp phía sau (phần 2), có số đo 0,2m. Hướng nam giáp đất ông Nguyễn Văn Đ1, có số đo 2,14m + 27,76m. Hướng bắc giáp đất bà Trần Thị Út N, có số đo 2,13m + 10,95m + 16,83m. (Đính kèm sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 05/9/2023).

Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 27/9/2023 bà Trần Thị Út N và ông Trần Thanh C kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông Trần Thanh C là đại diện theo uỷ quyền của bà N và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu phía bị đơn trả lại đất tranh chấp vì diện tích đất đang tranh chấp do cụ Trần Văn V sử dụng trước năm 1945 thuộc thửa 168 không phải thửa 186, 187. Qua đo đạc thực tế thì diện tích gia đình bị đơn sử dụng nhiều hơn so với giấy được cấp trong khi gia đình ông lại thiếu đất. Nhân chứng bị đơn cung cấp là người nhà của bị đơn nên không khách quan nên đề nghị huỷ án sơ thẩm.

- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho bà N đề nghị xem xét chữ ký của ông N1 trong biên bản xác định ranh đất, bà N và ông N1 được tặng cho quyền sử dụng đất tại thửa 863, đất tranh chấp là của ông Út D1; đất bị đơn qua 02 lần cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tăng nhưng không rõ lý do, yêu cầu xem xét lại trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị: Huỷ án sơ thẩm để điều tra xét xử lại.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho ông C xác định: Việc hoà giải địa phương do ông N1 đứng đơn nhưng khi khởi kiện là bà N đứng đơn; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình ông Đ1 nhưng cấp sơ thẩm chưa xác định hộ ông Đ1 bao nhiêu người, bà N4 không tham gia tố tụng nên đề nghị: Huỷ án sơ thẩm để điều tra xét xử lại.

- Bị đơn bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Văn Đ1 không đồng ý yêu cầu kháng cáo cũng như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, diện tích đất tranh chấp của phía bị đơn có trồng hàng dừa làm ranh, gia đình bị đơn hưởng lợi từ hàng dừa không ai tranh chấp, khi cụ V là cha của nguyên đơn chết hơn 10 năm thì nguyên đơn mới tranh chấp, gia đình bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng ranh giới và không ai tranh chấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về việc chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ lý phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định pháp luật. Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung kháng cáo của bà Trần Thị Út N, ông Trần Thanh C, nội dung khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ y án sơ thẩm. (có bài phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung

[2]. Xét kháng cáo của bà Trần Thị Út N và ông Trần Thanh C, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Bà N và ông C cho rằng diện tích đất đang tranh chấp với bị đơn qua đo đạc thực tế hiện bà Đ đang quản lý 268,7m² và ông Đ1 đang quản lý là 99,4m² là của cụ Trần Văn V là cha của bà N và ông C nằm trong tổng diện tích 6.457m² tại thửa 168 tờ bản đồ 01 đất tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Bà N và ông C xác định vào năm 1995, khi cụ V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ không ảnh 299 thì chỉ có 5.922m², còn thiếu 535,44m². Tại phiên toà hôm nay cũng như trong giai đoạn sơ thẩm, bà N và ông C đều thống nhất xác định từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay, phía nguyên đơn không khiếu nại gì và qua đo đạc thực tế diện tích đất tranh chấp không nằm trong thửa 168 tờ 01 đất tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

[2.2]. Diện tích đất tranh chấp nêu trên có nhiều cây ăn trái phía bị đơn đang thu hoạch và một phần nhà sau của bị đơn và phía bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 186 tờ bản đồ 01 đất tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, đến ngày 09/11/2006 mới tách một phần ra cho bà N và ông N5 tại thửa đất số 863, tờ bản đồ 01. Ngày 15/10/2020, ông L cấp đổi thành thửa đất số 1041 tờ bản đồ số 01 đất tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng là có xảy ra trên thực tế.

[2.3]. Người bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn yêu cầu xem xét lại thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phía bị đơn có đúng thủ tục hay không, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L ngày 15/10/2020, thuộc thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng là đúng đối tượng và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 01, được cấp đổi từ thửa đất số 186, tờ bản đồ số 01 đã được cơ quan cấp giấy chứng nhận số B 617914 cấp cho ông L ngày 18/9/1993. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã N đã tiến hành đo đạc hiện trạng, có xác nhận ranh của các chủ sử dụng đất liền kề, được thể hiện thông qua bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất kèm theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 03/8/2020.

[2.4]. Người đại diện theo uỷ quyền của bà N và luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà N cũng như ông C yêu cầu xem xét lại diện tích của bị đơn khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tăng nhiều nhưng không có căn cứ xác định lý do trong khi qua đo đạc thì diện tích của gia đình nguyên đơn thiếu nhiều hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo cơ quan chuyên môn xác định, trước đây cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dựa theo bản đồ không ảnh, nay đo đạc thực tế thì diện tích tăng là do sai số giữa hai lần đo đạc và một phần là do trước đây tính diện tích chưa chính xác (BL số 166). Vì vậy, diện tích đất thừa so với giấy chứng nhận cấp cho ông L không phải là căn cứ để xác định phần đất tranh chấp là của cụ V.

[3]. Từ phân tích đoạn [2.1] đến [2.4] cho thấy rằng: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng đất tranh chấp là của nguyên đơn nên yêu cầu sửa án sơ thẩm để chấp nhận yêu cầu khởi kiện cũng như đề nghị huỷ án để điều tra xét xử lại nhưng không có căn cứ chứng minh đất tranh chấp nguyên đơn là người sử dụng hợp pháp và cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi thực tế đất tranh chấp phía bị đơn đang quản lý sử dụng ổn định và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bản án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bà N và ông C kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ làm thay đổi Bản án nên không chấp nhận kháng cáo và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là giữ y án sơ thẩm.

[4]. Về án phí phúc thẩm: Bà N và ông C kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí, tuy nhiên ông C là người cao tuổi, người có công cách mạng và có yêu cầu miễn án phí nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí phúc thẩm cho ông C.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Út N và ông Trần Thanh C. Giữ nguyên Bản án số 67/2023/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1, khoản 4 Điều 34; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 2 Điều 158; khoản 1 Điều 165; khoản 2 Điều 166; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2, khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Căn cứ khoản 5, khoản 7 Điều 166; Điều 202; khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 24 và điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Út N về việc yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 617049 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Phạm Tấn L ngày 15/10/2020, đối với phần đất có diện tích 368,1m² (nằm trong tổng diện tích 2.597,3m²) thuộc thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Út N về việc yêu cầu buộc bà Lê Thị Đồng t tháo dỡ 02 cọc ranh, trả lại phần đất bao chiếm theo đo đạc thực tế có diện tích 268,7m², trong đó có hàng dừa do ông Trần Văn V trồng (phần 3 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất). Phần đất không chấp nhận có số đo tứ cận như sau: Hướng đông giáp phần đất tranh chấp với ông Nguyễn Văn Đ1 (phần 2), có số đo 6,37m. Hướng tây giáp thửa đất số 1041 của ông Phạm Tấn L, có số đo 6,91m. Hướng nam giáp thửa đất số 1041 của ông Phạm Tấn L, có số đo 49,29m. Hướng bắc giáp bà Trần Thị Út N, có số đo 4,75m + 1,59m + 47,66m.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Út N về việc yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn Đ1 tự tháo dỡ nhà sau, chuồng heo để trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 99,4m² (phần 2 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất) và tự tháo dỡ hàng rào để trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 7,2m² (phần 1 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất) cho gia đình bà Trần Thị Út N sử dụng.

    - Phần đất không chấp nhận diện tích 99,4m², có số đo tứ cận như sau: Hướng đông giáp ông Nguyễn Văn Đ1, có số đo 6,83m. Hướng tây giáp phần đất tranh chấp với ông Phạm Tấn L (phần 3), có số đo 6,37m. Hướng nam giáp thửa đất số 1041 của ông Phạm Tấn L, có số đo 2,57m + 12,53m. Hướng bắc giáp bà Trần Thị Út N, có số đo 12,42m + 0,2m + 2,14m.

    - Phần đất không chấp nhận diện tích 7,2m², có số đo tứ cận như sau: Hướng đông giáp lộ B, có số đo 0,2m. Hướng tây giáp phần đất tranh chấp phía sau (phần 2), có số đo 0,2m. Hướng nam giáp đất ông Nguyễn Văn Đ1, có số đo 2,14m + 27,76m. Hướng bắc giáp đất bà Trần Thị Út N, có số đo 2,13m + 10,95m + 16,83m.

    (Đính kèm sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 05/9/2023).

  4. Về án phí: Bà Trần Thị Út N phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) và 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, bà N đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006309 ngày 28/10/2022 và Biên lai thu số 0009993 ngày 03/10/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng được đối trừ. Bà Trần Thị Út N đã nộp đủ tiền án phí.
  5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng chi phí số tiền 18.670.000 đồng (mười tám triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng), bà Trần Thị Út N phải chịu số tiền này và đã nộp xong.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - Nguyên đơn;
  • - Bị đơn;
  • - NCQL&NVLQ;
  • - Lưu: HS, VP, 28bBDQK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 226/2024/DS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 226/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Út Nhanh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger