|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2024/HS-PT
Ngày: 29-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Khắc Thịnh |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Mỹ |
| Ông Phạm Minh Tùng |
Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 184/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Hồ Thanh T. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Bị cáo bị kháng nghị:
Hồ Thanh T, sinh năm 1991, tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: không có; Nơi cư trú: Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Không; Cha: Hồ Văn D, sinh năm 1966 và mẹ: Lê Thị B, sinh năm 1963; Có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ tên Huỳnh Thị Thúy L, sinh năm 1992; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị cáo Đỗ Văn L1, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn L1 và Hồ Thanh T là bạn bè quen biết ngoài xã hội, do không có nơi ở nên L1 đến ở tại nhà của T. Khoảng 15 giờ ngày 24/10/2023, T rủ L1 đi bắt ốc ở khu vực vườn X, cách một con sông đối diện với nhà của T khoảng 100 mét.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi T và L1 trên đường quay về nhà thì phát hiện xe mô tô biển số 66F7- 7370 của anh Nguyễn Tấn B1, đậu tại khu vực vườn Xoài thuộc Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, có gắn sẵn chìa khóa tại ổ khóa xe. Lưu quan sát xe không có người trông coi nên nói với T “xe kìa chạy đi”, T hiểu ý của L1 là kêu lấy trộm xe nên T đồng ý. L1 đứng cảnh giới còn T trực tiếp đi đến khu vực đậu xe, dẫn xe ra đường, khởi động xe rồi điều khiển xe chở L1 ngồi sau tẩu thoát. L1 kêu T chạy xe đến nhà của anh Dương Bảo T1 (D1) là bạn chấp hành án chung với L1 để cầm xe. Tại đây, L1 trực tiếp gặp mẹ của anh T1 là bà Lý Thị Mai X và T1 để trao đổi việc cầm xe còn T thì đứng bên ngoài. Sau khi thống nhất giá cầm xe là 1.000.000 đồng, T1 yêu cầu phải làm cam kết bảo đảm xe hợp pháp, L1 nói dối là xe của vợ T nên để T ký tên. L1 kêu T vào ký giấy cam kết xong, bà X giao cho T số tiền 950.000 đồng, trừ lại 50.000 đồng đóng trước tiền lãi suất. Sau đó, Lưu thuê T1 chở L1 và T đến nhà người bạn tên Tùng D2 để uống rượu. Tại đây T lấy số tiền vừa cầm xe được trả công cho T1 50.000 đồng, T cho người bạn tên Bùi Ngọc Viễn D3 50.000 đồng, chia cho L1 200.000 đồng, số tiền còn lại T và L1 cùng nhau tiêu xài hết.
Đến khoảng 18 giờ anh B1 đi thăm vườn xong quay trở lại vị trí đậu xe thì phát hiện xe mô tô biển số 66F7- 7370 đã bị mất trộm nên đến Công an xã H trình báo vụ việc. Qua công tác truy xét, Công an xã H mời Hồ Thanh T làm việc ghi lời khai, T thừa nhận đã cùng với Đỗ Văn L1 lấy trộm xe mô tô nêu trên và khai ra nơi cầm xe để Cơ quan điều tra thu hồi tài sản trả lại người bị hại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh Tòng phạm t “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Thanh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Đỗ Văn L1 01 (một) năm tù cũng về tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có Quyết định kháng nghị số: 117/QĐ-VKS với nội dung, đề nghị sửa một phần án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo Hồ Thanh T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Hồ Thanh T bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, ngày 24 tháng 7 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có Quyết định kháng nghị số: 119/QĐ-VKS, đề nghị sửa một phần án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo T. Xét thấy trong vụ án này, bị cáo Đỗ Văn L1 là người phát hiện chiếc xe, đồng thời cũng là người kêu T lấy trộm chiếc xe, quá trình trộm xe cũng như đi cầm xe đều do L1 chỉ dẫn, số tiền có được từ việc cầm xe cả hai bị cáo T, Lưu cùng nhau chi xài. Xét về nhân thân bị cáo L1 là người có nhân thân xâu, đã nhiều lần phạm tội (đã xóa án tích). Ngoài ra, bị cáo L1 còn bị UBND Phường 3 xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 2.500.000 đồng nhưng bị cáo chưa nộp phạt. Đối với bị cáo T chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, bị hại chỉ xin giảm nhẹ cho bị cáo T. Xét về hành vi, tính chất của từng bị cáo trong vụ án cũng như nhân thân của từng bị cáo mà Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt các bị cáo Đỗ Văn L1 và Hồ Thanh T mức án như nhau, mỗi bị cáo 01 năm tù là không phù hợp trong việc phân hóa vai trò đồng phạm của vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, giảm nhẹ cho bị cáo T từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo đồng phàm, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 16 giờ ngày 24/10/2023, bị cáo Đỗ Văn L1 và Hồ Thanh T có hành vi lén lút trộm chiếc xe mô tô biển số 66F7- 7370 của anh Nguyễn Tấn B1, đậu tại khu vực vườn Xoài thuộc Tổ B, ấp H, xã H, thành phố C, có gắn sẵn chìa khóa tại ổ khóa xe. Sau đó cả hai đem xe đi cầm được 950.000 đồng và cùng nhau tiêu xài cá nhân.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo Hồ Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả nên bị cáo T và bị cáo Đỗ Văn L1 đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô biển số 66F7- 7370, trị giá 3.500.000 đồng của bị hại Nguyễn Tấn B1. Bị cáo thừa biết việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, là có tội nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
3
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hồ Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có Quyết định kháng nghị số: 119/QĐ-VKS, đề nghị sửa một phần án sơ thẩm và giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo Hồ Thanh T. Xét thấy mức hình phạt 01 năm tù mà án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo T là chưa phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Trong vụ án này, các bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, cũng không có sự bàn bạc, sắp đặt vai trò cụ thể cho nhau nên đây chỉ là dạng đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau cho nên cần xem xét đối với từng bị cáo.
Bị cáo Đỗ Văn L1 là người phát hiện chiếc xe, là người kêu T lấy trộm xe, quá trình trộm xe cũng như đi cầm xe đều do L1 chỉ dẫn, số tiền có được từ việc cầm xe cả hai bị cáo T, Lưu cùng nhau chi xài. Do đó bị cáo L1 phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Xét về nhân thân bị cáo L1 là người có nhân thân xâu, đã nhiều lần phạm tội dù đã được xóa án tích. Ngoài ra, bị cáo L1 còn bị UBND Phường 3 xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 2.500.000 đồng nhưng bị cáo chưa nộp phạt.
Đối với bị cáo Hồ Thanh T, bị cáo làm theo sự chỉ dẫn của bị cáo L1, thực hiện với vai trò là đồng phạm giúp sức. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải, là lao động chính trong gia đình có 03 con còn nhỏ; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.
Án sơ thẩm xử phạt các bị cáo Đỗ Văn L1 và Hồ Thanh T cùng một mức hình phạt 01 năm tù là không phù hợp, chưa phân hóa vai trò đồng phạm của vụ án, chưa cá thể hoá từng bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T, giảm cho bị cáo T một phần về hình phạt.
[4] Xét lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Hồ Thanh T là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do vụ án bị Viện kiểm sát kháng nghị bản án theo thủ tục phúc thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 119/QĐ-VKS ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
5
Sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Hồ Thanh T.
2. Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh Tòng phạm t “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Thanh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Hồ Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
7
Bản án số 225/2024/HS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 225/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản có kháng nghị
