|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 225/2023/HS-ST Ngày 28 tháng 11 năm 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Biên
2. Ông Nguyễn Văn Môn
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Chu Ngọc Linh - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 222/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2023/QĐXXST – HS ngày 13/11/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Ích C - sinh năm 1985. Tên gọi khác: Không. Tại: Cao Bằng. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Nơi ở: thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Văn hóa: 9/12; Con ông: Hoàng Ích M, sinh năm 1952; Con bà: Liêu Thị C1, sinh năm: 1959. Bị cáo có 03 chị em, bị cáo là thứ hai. Vợ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1986. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Bị cáo C có mặt tại điểm cầu thành phần là trại tạm giam Công an tỉnh B.
* Bị hại:
- Công ty TNHH S1
Địa chỉ: Lô B, B2, B3, B6, B7 Khu công nghiệp S - N (phía Bắc), xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
Đại diện theo pháp luật: ông LEE YOUNG DAE – Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị L, sinh năm 2000(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang
- Chị Hoàng Thị X, sinh năm 1988(Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm N, xã Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Ích C làm công nhân bộ phận đúc nhôm tại xưởng C, lô B3 của Công ty TNHH S1 thuộc khu công nghiệp S - N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Khoảng 17 giờ ngày 31/8/2023, C điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ - đen, BKS 11U1-022.30 đến công ty TNHH S1 để làm ca đêm. Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 01/9/2023, Cấp hết ca làm nên ra về. Trên đường ra lấy xe máy, Cấp cởi áo khoác của công ty K ở nách bên trái và đi bộ qua xưởng D để đến nhà xe. Khi đi vào xưởng D, Cấp phát hiện trên mặt các bàn để nhiều thanh kim loại đồng hình chữ nhật được dùng để lắp ráp tủ điện. Cấp nảy sinh ý định trộm cắp các thanh kim loại đồng mang đi bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Quan sát xung quanh xưởng D không thấy có người, C đi bộ đến sát vị trí để các thanh kim loại đồng. Đến nơi, C mặc áo khoác vào người rồi kéo khoá áo đến giữa bụng. Cấp dùng hai tay nhặt lần lượt ba thanh kim loại đồng cho vào bên trong áo khoác, kẹp ở giữa nách và sườn bên trái nhằm che giấu tránh bị bảo vệ phát hiện khi đi qua cổng công ty. Tiếp đó, C đi bộ ra khỏi xưởng D và lấy xe máy rời khỏi công ty. Cấp điều khiển xe máy mang theo tài sản vừa trộm cắp đi theo đường gom cao tốc Hà Nội - Bắc Giang hướng về xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang để tìm nơi tiêu thụ. Cấp đi đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Hoàng Thị L, sinh năm 2000 ở thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang đặt vấn đề bán 03 thanh đồng rồi lấy từ trong áo khoác tài sản vừa trộm cắp được cho chị L xem. Chị L hỏi về nguồn gốc của các thanh đồng này thì C nói là sản phẩm lỗi do Cấp mua được của một người đàn ông trên đường. Chị L cầm 03 thanh đồng này đặt lên cân được gần 10kg và trả giá 150.000 đồng/kg thì C đồng ý bán. Chị L trả cho C 1.430.000 đồng tiền mặt. Sau khi nhận tiền, C điều khiển xe máy đi về nhà. Số tiền bán ba thanh kim loại đồng Cấp đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 05/9/2023 anh Trương Văn P, sinh năm 1995, trú tại thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH S1) có đơn trình báo. Cùng ngày, C đến đồn Công an Q đầu thú. Đồn Công an Q đã chuyển hồ sơ cho cơ quan CSĐT Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan CSĐT đã thu giữ của Cấp 01 chiếc áo khoác công nhân dài tay màu xanh đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu đỏ đen BKS 11U1-022.30.
Căn cứ lời khai của Hoàng Ích C, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nhà chị Hoàng Thị L 03 thanh kim loại bằng đồng.
Kết luận định giá tài sản số 168/KL-HĐ ngày 08/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “03 thanh nối mềm bằng đồng dùng cho thiết bị lưu trữ điện (FLEXIBLE BUS BAR), chưa qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 01/9/2023 là 5.336.055 đồng”.
Cơ quan điều tra cho anh Trương Văn P nhận dạng 03 thanh kim loại thu giữ được và cho chị L nhận dạng Cấp. Kết quả, anh P xác định đây chính là tài sản của Công ty TNHH S1 bị mất trộm; chị L xác định C là người bán cho chị L 03 thanh kim loại trên vào ngày 01/9/2023.
Cơ quan điều tra đã cho bị cáo C tự xác định hiện trường. Kết quả, bị can đã xác định đúng hiện trường, đúng vị trí tài sản trộm cắp và nơi Cấp bán tài sản trộm cắp.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đĩa DVD lưu 01 file video trích xuất tại Công ty TNHH S1 do anh P giao nộp ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc và trưng cầu giám định. Kết luận giám định số 2068/KL-KTHS ngày 26/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh file video có tên “D24_20230901045859.mp4" dung lượng: 4,63MB; thời lượng: 03 phút 00 giây được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định .
Cơ quan điều tra đã cho bị cáo C xem đoạn video đã thu giữ được. Kết quả Cấp xác định người nam giới mặc áo khoác có hành vi lấy các thanh kim loại cho vào trong áo khoác của mình rồi đi ra theo lối cửa xưởng D ra nhà xe như trong đoạn video chính là C.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 03 thanh kim loại cho anh Trương Văn P là người được công ty uỷ quyền.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ- đen mang BKS 11U1-022.30 đã qua sử dụng. Kết quả điều tra xác định chiếc xe này là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Hoàng Thị X, sinh năm 1988, trú tại xóm N, xã Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Chị X cho C mượn xe để đi làm, không biết việc Cấp trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B trả lại chiếc xe trên cho chị X.
Đối với chị Hoàng Thị L mua 03 thanh kim loại đồng do C bán nhưng không biết đó là tài sản do Cấp trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH S1 trong giai đoạn điều tra là anh Trương Văn P không yêu cầu bồi thường. Chị Hoàng Thị L yêu cầu Cấp bồi thường số tiền 1.430.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Công an thành phố B bị cáo Hoàng Ích C đã khai nhận hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 234/CT-VKS ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Ích C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.
Tại phiên toà bị cáo Hoàng Ích C khai nội dung cáo trạng đã truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng. Bị cáo thừa nhận từ ngày 01/9/2023 đã trộm cắp 03 thanh nối mềm bằng đồng dùng cho thiết bị lưu trữ điện (FLEXIBLE BUS BAR), trị giá 5.336.055 đồng của Công ty TNHH S1 .
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Hoàng Ích C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Ích C từ 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/9/2023.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc áo khoác công nhân dài tay màu xanh đã qua sử dụng
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt bị hại, người liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Hoàng Ích C tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn điều tra, và phù hợp với các chứng cứ. Từ các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định: Khoảng 05 giờ ngày 01/9/2023 tại khu vực xưởng D của Công ty TNHH S1 khu công nghiệp S - N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Ích C đã trộm cắp 03 thanh nối mềm bằng đồng dùng cho thiết bị lưu trữ điện (FLEXIBLE BUS BAR), trị giá 5.336.055 đồng của công ty. Sau đó C đem đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Hoàng Thị L ở thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang bán được 1.430.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 thanh kim loại trả lại người bị hại.
Hành vi của bị cáo Hoàng Ích C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình thực hiện; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt áp dụng cho bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích tư lợi, ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử còn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền để sung công quỹ nhà nước theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
[6.1] Bị hại Công ty TNHH S1 không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị L yêu cầu bị cáo bồi thường 1.430.000 đồng thì thấy: Bị cáo trộm cắp 03 thanh đồng của Công ty TNHH S1 và đem bán cho chị L được 1.430.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hoàng Thị L số tiền 1.430.000 đồng.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc áo khoác công nhân dài tay màu xanh đã qua sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Những vấn đề khác của vụ án:
[8.1] Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ- đen mang BKS 11U1-022.30 đã qua sử dụng. Kết quả điều tra xác định chiếc xe này là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Hoàng Thị X, sinh năm 1988, trú tại xóm N, xã Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Chị X cho C mượn xe để đi làm, không biết việc Cấp trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B trả lại chiếc xe trên cho chị X nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8.2] Đối với chị Hoàng Thị L mua 03 thanh kim loại đồng do C bán nhưng không biết đó là tài sản do Cấp trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Ích C 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung. Xử phạt bị cáo Hoàng Ích C 06 (S) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/9/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hoàng Ích C bồi thường cho chị Hoàng Thị L số tiền 1.430.000 đồng.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc áo khoác công nhân dài tay màu xanh đã qua sử dụng
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 193/QĐ – VKS ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Ích C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Thu Hà |
Bản án số 225/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 225/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội trộm cắp tài sản
