|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2024/DS-PT
Ngày 26-9-2024
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất,
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Trứ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duyên Trường - Kiểm sát viên
Trong các ngày 20 và 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 89/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 147/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 172/2024/QĐ- PT ngày 25 tháng 6 năm 2024; Thông báo v/v mở lại phiên tòa số 150/2024/TB- TA ngày 30 tháng 8 năm 2024; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 193/2024/QĐ- TA ngày 20 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1968 (có mặt);
Địa chỉ: F tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H:
- Ông Lê Viết T, sinh năm 1963 (có mặt);
Địa chỉ: B đường S, khu K, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Ông Nguyễn Đăng Đ, sinh năm 1989 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ I M, H, Hà Nội.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1952 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Công ty Cổ phần Thương mại và Đại lý dầu tỉnh B (vắng mặt);
Địa chỉ: A đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-
Ông Lê X, sinh năm 1969 (vắng mặt);
Địa chỉ: F tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-
Bà Võ Thị Ánh N, sinh năm 1968 (vắng mặt);
Địa chỉ: F tổ H, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-
-
Người làm chứng
-
Ông Dương B, sinh năm 1947 (có mặt);
Địa chỉ: F tổ A, ấp P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-
Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1966 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ A ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-
Ông Mai Tấn D, sinh năm 1962 (vắng mặt);
Địa chỉ: F tổ A, ấp P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
-
-Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Đức Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày:
Vào năm 2010 bà Võ Thị H có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Công ty Cổ phần Thương mại và Đại lý dầu tỉnh B (sau đây gọi tắt là Công ty Đ) diện tích đất là 80m² thuộc một phần của thửa đất số 14, tờ bản đồ số 107, tọa lạc tại ấp P (nay là ấp P) xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (sau đây gọi tắt là thửa 14), với giá 320.000.000 đồng. Khi nhận chuyển nhượng thì trên đất có 01 cái chòi của chủ đất cũ (không biết tên tuổi), bà H phá bỏ chòi xây nhà cấp 4 sinh sống. Khi xây nhà thì chỉ xây một phần, còn một phần để trống chứa đồ làm ghe. Ông Nguyễn Đức Q trước đây ở phòng trọ của ông B1. Sau đó phòng trọ cũ, ông B1 xây lại phòng trọ, ông Q không có chỗ ở nên bà H cho ông Q mượn phần đất trống của bà H để ở tạm trong lúc chờ ông B1 xây lại phòng trọ. Ông Q mượn vách nhà bà H lợp tole để ở. Lúc đầu ông Q ở khoảng 16m². Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đến nay ông Q lấn dần lên thành diện tích 35,8m² như hiện nay. Sau khi ông B1 xây phòng trọ xong, ông Q không dọn đến nhà trọ ở. Bà H đã nhiều lần yêu cầu ông Q dọn đi để trả đất cho bà H xây dựng nhà cho con bà H sinh sống nhưng ông Q không dọn đi trả lại đất cho bà H.
Theo sơ đồ vị trí ngày 10-8-2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thì phần A1 có diện tích 13,8m² thuộc thửa đất số 14. Đây không phải diện tích đất bà H nhận chuyển nhượng của Công ty Đ mà do đất chật hẹp nên bà H lấn ra để buôn bán tạp hóa, khi nào Công ty Đại lý dầu yêu cầu trả lại thì bà H sẽ dọn dẹp gọn lại để trả lại phần đất này.
Đối với phần C có diện tích 20,4m² bà Võ Thị Ánh N đang sử dụng để làm nhà xe, trong đó có 4,8m² thuộc thửa 14 mà bà H đã nhận chuyển nhượng của Công ty Đ, phần này bà H không tranh chấp, bà H và bà N sẽ tự thỏa thuận với nhau.
Nay bà H yêu cầu ông Q giao trả lại cho bà Hoàng p diện tích đất ông Q hiện đang sử dụng của bà H là 35,8m² thuộc một phần của thửa đất số 14, bà H không hỗ trợ chi phí di dời; bà H cũng yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán đất ngày 24-5-2010 giữa Công ty Đ và bà H; Công nhận cho bà H được quyền sử dụng đất đối với một phần của thửa đất số 14.
Về việc diện tích đất bà H yêu cầu ông Q trả lại có sự chênh lệch so với khởi kiện ban đầu theo bà H là do khi cho ông Q ở nhờ thì cho ở khoảng 16m², không đo đạc nên không biết diện tích chính xác, nên nay bà H yêu cầu ông Q trả lại theo diện tích thực tế đo đạc hiện nay là 35,8m². Đồng thời diện tích theo đo đạc tại Sơ đồ vị trí ngày 10-8-2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B diện tích đo đạc thực tế ít hơn so với bà H đã mua là 80m² thì bà H đồng ý theo đo đạc thực tế. Do đó, bà H yêu cầu giải quyết diện tích theo sơ đồ mới nhất là Sơ đồ vị trí ngày 10-8-2023.
Về sơ đồ vị trí thửa đất; xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì bà H không có ý kiến gì. Về tiền tạm ứng đo đạc, thẩm định, định giá bà H tự nguyện chịu.
Bị đơn ông Nguyễn Đức Q trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm ngày 05-9-2023 trình bày:
Vào năm 1995 gia đình ông Q có mượn ông Đ1 là cha của ông Trần Bích m miếng đất để ở (đất giáp nhà bà H hiện nay), ông Q ở quay mặt về 02 hướng, 01 hướng Đông và 01 hướng Tây. Thời điểm này bà H chưa tới ở. Đến năm 2008 vợ, con ông Q chết, ông Q đưa vợ con về quê ở Quảng Ngãi thờ phụng. Sau khi lo mộ phần xong ông Q vô lại xã P, huyện L và sinh sống trên phần đất này cho tới nay (đất thuộc một phần thửa 14), diện tích thời điểm đó khoảng 16m², diện tích cụ thể hiện nay không rõ. Năm 2014 ông B1 xây phòng trọ về hướng Đông, còn hướng Tây ông Q ở cho tới nay. Trên phần đất này, ông Q không xây dựng tường gạch kiên cố mà dùng gỗ và tole lợp gác lên vách của nhà bà H, nhà để xe của bà N và phía sau có xây hàng gạch tránh trời mưa và lợp tole để ở, ngoài ra không xây dựng cơ sở vật chất nào kiên cố. Hiện nay, chỉ có một mình ông Q sinh sống tại căn nhà tạm này. Theo ông Q đất ông Q đang sử dụng là đất của nhà nước, không phải đất của ai cả. Trong trường hợp đất ông Q đang sử dụng bà H có giấy tờ hợp pháp chứng minh là đất của bà H thì ông Q mong bà H chuyển nhượng phần đất này cho ông Q để ông Q có chỗ ở. Nếu bà H không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông Q không đồng ý trả lại đất cho bà H.
Về sơ đồ vị trí thửa đất, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ ông Q không có ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Thương mại và Đại lý dầu tỉnh B trong quá trình làm việc tại Tòa án trình bày:
Vào ngày 24-5-2010 Công ty Đ và bà Võ Thị H có lập “Hợp đồng mua bán đất” với diện tích 80m² đất thuộc một phần của thửa số 14 thuộc khu quy hoạch khu dân cư làng ngư nghiệp xã P, với giá 320.000.000 đồng và giao đất cho bà H. Do đất không tách thửa được nên chỉ chuyển nhượng bằng hợp đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Ánh N trong quá trình làm việc tại Tòa án trình bày:
Vào khoảng năm 2007 (sau khi ông B1 xây xong nhà trọ), bà N và bà H, ông Q cùng tới đất của Công ty Đ để ở, bà H và ông Q thì sinh sống ở đây, còn bà N thì sử dụng làm chỗ để xe ô tô (trước khi tới phần đất này thì đã có người khác tới lấn chiếm ở trước, chỗ nhà bà H ở thì có tiệm làm tóc, chỗ ông Q đất trống, chỗ bà N để xe có mấy người bán bánh bèo, bánh chén). Bà N1 mua lại của bà bán bánh bèo số tiền 3.000.000 đồng, còn bà H mua lại của tiệm làm tóc bao nhiêu thì bà N1 không biết (sau khi bán đất cho bà N1 và bà H thì họ đã chuyển đi, hiện nay bà N1 không biết họ ở đâu). Thời điểm này bà N1, bà H và ông Q đều biết đất này của Công ty Đ, nhưng không biết chủ ở đâu để hỏi mua.
Trước đây, giữa phần đất bà N1 để xe và tiệm làm tóc có một phần nhỏ đất trống hình tam giác nhỏ, ông Q sử dụng chỗ này để chứa lưới làm ghe, trên phần đất này thời điểm đó có 01 cây mãng cầu, sau này ông Q chặt đi.
Bà N1 và bà H vẫn thường nói với nhau khi nào tìm được địa chỉ của chủ Công ty Đ dầu thì cùng nhau đi mua phần đất này. Nhưng sau đó bà H tìm được địa chỉ của Công ty Đ thì âm thầm đi mua đất một mình mà không nói cho bà N1 biết. Khi bên Công ty xuống đo đạc để bán đất thì bà N1 có nghe nói lại là Công ty có hỏi về chỗ bà N1 đang để xe và chỗ ông Q ở, nhưng bà H nói là đất của bà H cho để đồ nhờ, nên Công ty làm hợp đồng bán cho bà H. Số tiền mua bán, diện tích mua bán giữa bà H và Công ty là bao nhiêu thì bà N1 không biết (nay bà N1 mới biết bà H mua 80m²). Sau khi biết sự việc bà N1 cũng có trách bà H tìm thấy chủ đất mà không nói để cùng mua, nhưng bà H cũng có nói “Nếu là chị thì chị cũng âm thầm đi mua giống tôi mà thôi”.
Hiện nay phía sau nhà xe của bà N1 có một phần đất trống, ông Q đang sử dụng phần đất này. Trước khi bà H mua đất của Công ty Đại lý dầu thì bà N1 có nói ông Q “khi nào tôi mua của Đại lý dầu thì ông Q phải trả lại cho tôi phần phía sau nhà để xe”, ông Q đã đồng ý, nhưng sau này bà H lại mua được.
Giữa bà N1 và bà H từ trước đến nay không có tranh chấp về phần đất bà N1 để xe này. Trong trường hợp phần đất bà N1 để xe thuộc 80m² đất mà bà H đã mua của Công ty Đ thì bà N1 và bà H sẽ tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê X tại Đơn xin vắng mặt trình bày:
Ông Lê X là chồng của bà H, về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất, yêu cầu khởi kiện, ông X thống nhất với lời trình bày của bà H.
Người làm chứng là ông Dương B, ông Nguyễn Thanh H1 và ông Mai Tấn D trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Ông Dương B, ông Nguyễn Thanh H1 và ông Mai Tấn D không biết cụ thể đất tranh chấp giữa bà H và ông Q thuộc số thửa, tờ bản đồ bao nhiêu. Ông B, ông H1 và ông D chỉ biết vào năm 1995 thì ông Q dựng nhà tạm trên phần đất hiện nay để ở. Việc đất đang tranh chấp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty Đ và bà H mua bán với Công ty Đ dầu như thế nào thì ông B, ông H1 và ông D không biết.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 64/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
-
Buộc ông Nguyễn Đức Q phải tháo dỡ, di dời mái che tole được dựng gác lên các bức tường trong diện tích 35.8m² (phần b1) thuộc một phần của thửa đất số 14 tờ bản đồ số 107 xã P theo sơ đồ vị trí ngày 10/8/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh B để trả lại đất cho bà Võ Thị H.
-
Công nhận hiệu lực của “Hợp đồng mua bán đất” giữa người chuyển nhượng là Công ty cổ phần thương mại và Đại lý dầu tỉnh B và người nhận chuyển nhượng là bà Võ Thị H đối với một phần của thửa đất số 14 tờ bản đồ số 107 xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, gồm các điểm A, b1 và c1 theo sơ đồ vị trí ngày 10/8/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh B.
-
Công nhận cho bà Võ Thị H được quyền sử dụng đối với một phần của thửa đất số 14 tờ bản đồ số 107 xã P gồm các điểm A, b1 và c1 theo sơ đồ vị trí ngày 10/8/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh B.
Bà Võ Thị H có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục về đất đai theo quy định của pháp luật. Chi phí phát sinh từ thủ tục về đất đai do bà Hoàng c theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29-9-2023, bị đơn ông Nguyễn Đức Q kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại cấp phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
-Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định. Đương sự có mặt tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Diện tích đất bà H yêu cầu công nhận không đủ điều kiện tách thửa theo quy định, nên bà H chỉ được quyền sử dụng diện tích đất 71,7m² thuộc một phần thửa đất số 14, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho công ty Đ dầu. Ông Q đang sử dụng phần đất nằm trong diện tích đất bà H đã nhận chuyển nhượng của công ty Đ nên bà H khởi kiện yêu cầu buộc ông Q trả lại đất là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Q, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Thương mại Đại lý dầu tỉnh B, ông Lê X, bà Võ Thị Ánh N; người làm chứng là các ông Nguyễn Thanh H1, Mai Tấn D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, xử vắng mặt các ông bà trên.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức Q:
[2.1] Ngày 25-3-2019, bà H có đơn khởi kiện ông Q, yêu cầu giao trả cho bà diện tích đất 16m² thuộc thửa 14. Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn là ông Q. Bà H khởi kiện là căn cứ vào Hợp đồng mua bán đất giữa công ty Đ dầu với bà H, có dấu xác nhận của công ty Đ.
Ngày 10-9-2019, bà H có đơn khởi kiện bổ sung. Tại mục người bị kiện ghi là ông Q và công ty Đ. Theo đơn khởi kiện này bà H yêu cầu ông Q giao trả cho bà diện tích đất 16m² thuộc thửa 14 và công nhận hợp đồng mua bán đất ngày 24-5-2010, công nhận cho bà được quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm đã thông báo thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện và thay đổi tư cách tham gia tố tụng, theo đó xác định có hai bị đơn trong vụ án là ông Q và công ty Đ. Tuy nhiên các giai đoạn tố tụng tiếp theo và tại bản án đều xác định sai tư cách người tham gia tố tụng, cụ thể xác định công ty Đ là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2.2] Trong suốt quá trình tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, cấp sơ thẩm đều không thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết cho công ty Đ. Trước khi thụ lý yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà H đối với công ty Đ thì tại Biên bản hòa giải ngày 24-7-2019 thể hiện có sự tham gia của đại diện công ty Đ dầu là ông Vũ Trường G, tuy nhiên không có văn bản của người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho ông G.
[2.3] Tòa án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử nhưng thủ tục tố tụng tống đạt, niêm yết cho công ty Đ tham gia các phiên tòa chưa đảm bảo. Cụ thể đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhiều lần hoãn phiên tòa, tạm ngừng phiên tòa, thông báo mở lại phiên tòa nhưng chỉ có 01 lần duy nhất niêm yết cho công ty Đại lý dầu tham gia phiên tòa vào ngày 05-9-2023.
Ngoài ra thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm cho các lần mở, hoãn phiên tòa là chưa đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.4] Diện tích đất tranh chấp là một phần trong tổng diện tích đất thửa 14 mà công ty Đ được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10-3-2006. Do vậy hồ sơ xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng và biến động thửa đất được lưu trữ tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm lại ra văn bản yêu cầu Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L cung cấp nên dẫn đến việc không thể thu thập được tài liệu chứng cứ cho nội dung này. Mặc dù vậy nhưng cấp sơ thẩm vẫn đánh giá, công nhận hợp đồng mua bán đất và công nhận quyền sử dụng đất cho bà H.
Hợp đồng mua bán đất giữa bà H và công ty Đ dầu không thể hiện cụ thể vị trí, tứ cận phần đất chuyển nhượng. Tại Biên bản hòa giải ngày 24-7-2019 thể hiện đại diện công ty Đ là ông Vũ Trường G. Theo ông G thì bà H chỉ ranh giới không đúng theo vị trí mua bán đất ban đầu. Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cung cấp về thửa đất, căn cứ vào kết quả xác minh của cấp phúc thẩm tại Ủy ban nhân dân tỉnh B thì diện tích đất bà H nhận chuyển nhượng (theo chỉ ranh của bà H trên sơ đồ vị trí) và đang yêu cầu công nhận thuộc quy hoạch trạm xử lý nước thải nằm trong dự án nhà ở theo quy hoạch được phê duyệt tại Quyết định số 64/QĐ- UBND ngày 03-01-2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh B v/v phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu dân cư làng ngư nghiệp xã P, huyện L (nay là huyện L).
Như vậy, trường hợp này cần xem xét đánh giá giao dịch chuyển nhượng giữa các bên theo hợp đồng mua bán đất có phù hợp quy định của pháp luật không để từ đó xem xét tính pháp lý phát sinh hiệu lực của hợp đồng, xác định rõ hậu quả, trách nhiệm bồi thường trong trường hợp dẫn đến hợp đồng không thể thực hiện được, tuy nhiên cấp sơ thẩm chưa thực hiện làm rõ những vấn đề này.
Những vi phạm của cấp sơ thẩm nêu trên ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự, ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án. Do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và chưa thu thập đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
[3] Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng: Được xem xét khi cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông Q được chấp nhận nên ông Q không phải chịu án phí phúc thẩm. Ông Q thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí, án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức Q;
-
Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 64/2023/DS- ST ngày 21-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
-
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26-9-2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thương |
Bản án số 225/2024/DS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 225/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỷ án
