TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2024/HS-ST Ngày: 24 - 5 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Ông Võ Văn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 234/2024/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo hình thức trực tuyến tại 02 điểm cầu:
- + Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Số A đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- + Điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Số I đường Đ, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức Hoàng A, sinh năm: 1998, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số E đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: E Đường B, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Thái B, sinh năm 1971 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1973; bị cáo là thứ 02 trong gia đình có 02 chị em; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/8/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa đặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 28/8/2023, Tổ tuần tra – Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy tuần tra trên địa bàn, khi đến vòng xoay chân cầu B thuộc phường H, thành phố T thì phát hiện Nguyễn Văn D mặc áo G1 điều khiển xe mô tô hiệu Honda, biển số 82E1- 247.75 có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trên xe của D có treo một túi nylon màu đỏ, bên trong túi có một hộp giấy màu đen, trên hộp có in dòng chữ "COSMETIC BODY VIP", trong hộp giấy có một hộp nhựa màu đen ghi chữ "COSMETIC BODY VIP”, bên dưới hộp nhựa có một gói nylon màu trắng cam trên gói nylon có in dòng chữ “CAMELLTA", bên trong chứa chất bột màu vàng, nghi là ma túy nên Tổ tuần tra đưa D về Công an phường H làm việc.
Tại Công an phường H, Nguyễn Văn D khai nhận: Các gói chứa chất bột mà Tổ tuần tra thu giữ là đơn hàng D nhận đi giao cho một người tên Hoàng A, địa chỉ: E Đường B, Khu phố C, phường H, thành phố T, giao đến người nhận tên M, địa chỉ: A N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi nhận túi nylon màu đỏ D không biết trong túi chứa gì.
Từ lời khai của Nguyễn Văn D, lúc 21 giờ ngày 28/8/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phối hợp với Công an phường H, thành phố T kiểm tra hành chính tại nhà số E, Đường số B, Khu phố C, phường H, thành phố T do Huỳnh Thị T thuê để ở (không làm hợp đồng thuê). Tại thời điểm kiểm tra trong nhà có Nguyễn Đức Hoàng A, Huỳnh Thị T (là mẹ của Hoàng A) và Nguyễn Quốc T1 (là bạn của Hoàng A). Qua kiểm tra Hoàng A khai nhận có cất giấu ma túy trong phòng và chỉ chỗ để tổ công tác thu giữ. Kiểm tra trên thùng máy tính bàn màu trắng trong phòng ngủ có 05 gói nylon màu đỏ đựng 05 hộp giấy màu đen in chữ Cosmetic B, bên trong có 05 hộp nhựa màu đen in chữ Cosmetic B, bên dưới mỗi hộp nhựa đều có 01 gói nylon màu trắng cam in chữ "Camellia Ceylon Orange P". Hoàng A khai nhận các gói nylon màu trắng cam bên trong chứa chất bột màu vàng là ma túy của Hoàng A dạng ma túy nước vui, Hoàng A mua về bán lại kiếm lời. Làm việc với T và T1 thì đều khai không biết Hoàng A cất giấu ma túy trong nhà và không phụ giúp Hoàng A mua bán ma túy nên không có căn cứ xử lý T và T1.
Nguồn gốc ma túy là do Hoàng A lên nhóm “Hội Đồng P” trên Facebook để tìm mua.
Lần thứ nhất: Hoàng A mua ma túy của một thanh niên (không nhớ tên) với giá 3.000.000 đồng để sử dụng. Hoàng A đã sử dụng 01 gói, còn 01 gói cất giữ tại nhà chưa sử dụng.
Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 27/8/2023, Hoàng A vào nhóm “Hội Đồng Phê” để tìm mua ma túy loại nước vui về để bán kiếm lời. Hoàng A sử dụng điện thoại hiệu Iphone của Hoàng A nhắn tin lên nhóm thì được một người (không nhớ tên tài khoản Facebook) để lại số điện thoại (không nhớ số) và kết bạn T2 (không nhớ tên tài khoản). Sau đó, Hoàng A nhắn tin qua T2 hỏi mua 10 gói ma túy loại nước vui thì người này nói giá 15.000.000 đồng, Anh đồng ý. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, có 01 thanh niên (không rõ lai lịch) mặc đồ G1 giao ma túy và Hoàng A đưa tiền mặt.
Sau khi mua 10 gói ma tuý loại nước vui, Hoàng A đã bán cho Lê Quốc K (không rõ lai lịch) 02 lần. Lần thứ nhất vào khoảng 10 giờ ngày 28/8/2023, Hoàng A bán cho K 01 gói ma túy dạng nước vui với giá 1.800.000 đồng và K thanh toán tiền bằng hình thức chuyển khoản trước qua MoMo được đăng ký qua số thuê bao 0909305146 cho Hoàng A vào ngày 24/8/2023 (Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành sao kê tài khoản ghi nhận lời khai của Hoàng A phù hợp với ngày tháng, số tiền trong sao kê khớp nhau) và lần thứ 2 vào khoảng 17 giờ cùng ngày, A tiếp tục bán cho K 01 gói ma túy dạng nước vui với giá 2.000.000 đồng (thanh toán bằng hình thức trả tiền trực tiếp cho shipper giao hàng).
Lần thứ ba, Anh bán 01 gói ma tuý loại nước vui cho 01 người tên M, địa chỉ: A N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thông qua dịch vụ giao hàng G1 với giá 2.500.000 đồng nhưng chưa kịp giao hàng thì bị bắt. Qua điều tra, M tên thật là Phạm Thu Nguyệt C (nơi ở hiện tại: A N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh). Anh sử dụng Zalo tên HOANG PHI HAN để trao đổi bán ma tuý với C. Cầm đặt mua 01 gói ma tuý loại nước vui với giá 2.500.000 đồng từ A và C đã thực hiện chuyển khoản cho Hoàng A qua số tài khoản 5597999999 ngân hàng S tên chủ tài khoản HOANG CONG HAN cho A. Sau khi nhận được tiền, Anh thông qua ứng dụng giao hàng G đã đặt giao ma tuý đến cho C nhưng chưa kịp giao ma tuý thì bị bắt.
Kết luận giám định số: 9679/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận:
- - 04 gói nylon màu trắng cam có in chữ “CAMELLIA Ceylon Orange Pekoe Tea” chứa bột màu vàng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,4091 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam (thu giữ trên xe G1).
- - 01 gói nylon chứa bột màu vàng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1211 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam (thu giữ trên xe G1).
- - 01 gói nylon màu cam in chữ “CHALI” chứa bột màu vàng nhạt có khối lượng 1,2956 gam, loại Safrole. Safrole là tiền chất có số thứ tự 42, danh mục IVA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất (thu giữ tại nhà).
- - 02 gói nylon in chữ “Deadpool” chứa bột màu vàng nhạt. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,9249 gam, loại Methamphetamine, MDMA, N (thu giữ tại nhà).
- - 01 gói nylon màu trắng cam in chữ “CAMELLIA Ceylon Orange Pekoe Tea”, bên trong chứa bột màu vàng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,2226 gam, loại Methamphetamine, MDMA, N (thu giữ tại nhà).
Tổng khối lượng ma túy: 8,4551 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam và 1,2956 gam tiền chất, loại Safrole.
Ngày 10/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định trưng cầu giám định số 1078/QĐ-ĐCSMT gửi Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Giám định hàm lượng các chất ma túy”. Ngày 27/10/2023, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh trả lời: Mẫu ma túy mà Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu giám định không thuộc nhóm phải xác định hàm lượng và không trả lời theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Vật chứng vụ án:
- - 01 gói niêm phong ghi vụ: 1919/23 gói 1, các chữ ký ghi tên Đại uý Bùi Công D1, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: bột màu vàng có khối lượng 4,5698 gam.
- - 01 gói niêm phong ghi vụ: 1919/23 gói 2, các chữ ký ghi tên Đại uý Bùi Công D1, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: bột màu vàng nhạt có khối lượng 0,7352 gam.
- - 01 gói niêm phong ghi vụ: 1919/23 gói 3, các chữ ký ghi tên Đại uý Bùi Công D1, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: bột màu vàng nhạt có khối lượng 2,2180 gam.
- - 01 gói niêm phong ghi vụ: 1919/23 gói 4, các chữ ký ghi tên Đại uý Bùi Công D1, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: bột màu vàng có khối lượng 0,9047 gam.
- - 01 điện thoại di động hiệu iphone, số thuê bao 0764.666.xxx thu giữ của Anh (đã qua sử dụng).
Tại Cáo trạng số: 239/CT-VKS-TPTĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Đức Hoàng A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý với kết luận giám định và không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội nên rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo cơ hội sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 28/8/2023, Tổ tuần tra – Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đức Hoàng A tàng trữ 8,4551 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam và 1,2956 gam tiền chất, loại Safrole với mục đích bán kiếm lời. Ngày 28/8/2023, Hoàng A bán ma túy cho Lê Quốc K (không rõ lai lịch) hai lần, mỗi lần một gói và bán cho Phạm Thu N1 Cầm một lần một gói ma túy, khi Anh đặt đơn giao ma túy qua ứng dụng giao hàng G1 do Nguyễn Văn D nhận đơn hàng và giao đến cho C thì bị Tổ tuần tra phát hiện và thu giữ trên xe của D 5,5302 gam và khám xét tại nhà Hoàng A thu giữ 4,2205 gam.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, tiếp tay cho các tệ nạn xã hội ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy nhưng vì mục đích vụ lợi đã cố ý mua ma túy về bán cho người khác để kiếm lời. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
Đối với Nguyễn Văn D là người bị Tổ tuần tra phát hiện và thu giữ ma túy trên xe của D. Quá trình điều tra D khai có nhận chuyển hàng cho Nguyễn Đức Hoàng A qua ứng dụng giao hàng G1, D không biết đơn hàng chứa ma túy và không quen biết Hoàng A nên không có căn cứ xử lý D về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với người đàn ông (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Hoàng A và Lê Quốc K là người mua ma túy của Hoàng A. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch và riêng đối với K, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành công văn gửi Công ty cổ phần D2 yêu cầu cung cấp tài khoản ngân hàng, địa chỉ email đã và đang kết nối với ví MOMO qua số thuê bao 0909305146 và sao sao kê giao dịch nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời nên chưa có căn cứ xử lý hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.
Đối với Phạm Thu Nguyệt C là người mua ma túy của Anh nhưng chưa nhận được ma túy thì bị Cơ quan Công an mời về làm việc và C không phụ giúp Hoàng A mua bán ma túy. Do đó, không có căn cứ để xử lý hình sự đối với C.
Đối với Huỳnh Thị T và Phạm Quốc T3, quá trình điều tra T và T3 không biết nguồn gốc số ma túy trên và không phụ giúp Hoàng A mua bán ma túy nên không có căn cứ xử lý hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Khối lượng ma túy bị cáo mua bán là 8,4551 gam, loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam và 1,2956 gam tiền chất, loại Safrole và thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo mua bán khối lượng ma túy tương đối lớn nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo: Xét đây là chất ma túy Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu iphone, số thuê bao 0764.666.xxx là phương tiện bị cáo liên lạc để mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về tiền thu lợi bất chính: Bị cáo đã bán cho Lê Quốc K 02 lần nhưng mới nhận tiền 01 lần qua tài khoản Momo số tiền 1.800.000 đồng, bán cho Phạm Thu Nguyệt C (Mi) 01 lần nhận tiền qua tài khoản ngân hàng số tiền 2.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính là 4.300.000 đồng nên buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.
3. Về tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A nộp số tiền 4.300.000 (bốn triệu, ba trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 gói niêm phong ghi vụ: 1919/23 gói 1, các chữ ký ghi tên Đại uý Bùi Công D1, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: bột màu vàng có khối lượng 4,5698 gam.
- + 01 gói niêm phong ghi vụ: 1919/23 gói 2, các chữ ký ghi tên Đại uý Bùi Công D1, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: bột màu vàng nhạt có khối lượng 0,7352 gam.
- + 01 gói niêm phong ghi vụ: 1919/23 gói 3, các chữ ký ghi tên Đại uý Bùi Công D1, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: bột màu vàng nhạt có khối lượng 2,2180 gam.
- + 01 gói niêm phong ghi vụ: 1919/23 gói 4, các chữ ký ghi tên Đại uý Bùi Công D1, Nguyễn Thị Phương M1. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: bột màu vàng có khối lượng 0,9047 gam.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số thuê bao 0764.666.xxx (đã qua sử dụng).
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 154/QĐ-VKS ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/230C ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 225/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 225/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Hoàng A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
