TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2025/DS-PT
Ngày: 21/03/2025
V/v Tranh chấp chia tài sản chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương
Các Thẩm phán:
- 1. Bà Nguyễn Thị Lan Hương
- 2. Bà Võ Thị Kim Thương
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa – Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 03 năm 2025 và ngày 21 tháng 03 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 900/TLPT- DS ngày 18 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp chia tài sản chung”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 1140/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 731/2025/QĐPT -DS ngày 20/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958;
Thường trú: H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M: Bà Nguyễn Thị H, Luật sư – Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị H, Đoàn luật sư Thành phố H.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1966;
Địa chỉ: H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1960;
Thường trú: H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1962;
Thường trú: 206 D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Hồng L, sinh năm 1968;
Thường trú: H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1972;
Địa chỉ: H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trẻ Nguyễn Hồng T, sinh ngày 23/10/2007;
- Trẻ Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 19/6/2010;
- Trẻ Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 04/10/2013;
Cùng cư trú: H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người giám hộ của trẻ T, T1, N: Ông Nguyễn Hồng S, bà Đỗ Thị L1.
- - Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hồng S.
(Phiên tòa có mặt: Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hồng S, bà Nguyễn Thị Thanh H1, bà Nguyễn Thị Thu H2, bà Đỗ Thị L1, Luật sư Nguyễn Thị H. Vắng mặt ông Nguyễn Hồng L)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Nguyễn Thị M trình bày:
Nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản có nguồn gốc của cha mẹ bà tên Nguyễn Văn H3, chết năm 2011 và Hà Thị T2, chết năm 2016 để lại. Cha mẹ bà có tổng cộng 06 người con tên: Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1, Nguyễn Thị Thu H2, Nguyễn Hồng S, Nguyễn Hồng L, Nguyễn Thị Thu H4. Ông H3 chết không để lại di chúc, bà T2 chết để lại di chúc.
Di chúc của bà T2 có nội dung: Phần của bà T2 để lại cho hai người con là Nguyễn Thị M và Nguyễn Thị Thanh H1.
Sau đó, anh chị em bà có thực hiện kê khai di sản thừa kế bằng văn bản thỏa thuận phân chia di sản tại Phòng C: Mỗi người đều được hưởng kỷ phần của mình theo quy định của pháp luật, riêng Thu H4 cho bà và bà Thanh H1 phần kỷ phần được nhận. Do đó, giấy chứng nhận đã được cập nhật biến động chủ sở hữu cho Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1, Nguyễn Thị Thu H2, Nguyễn Hồng S, Nguyễn Hồng L.
Bà Nguyễn Thị M khởi kiện ông Nguyễn Hồng S yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã được UBND quận B cấp giấy chứng nhận số AC166280 (số vào sổ: H07426) ngày 21/9/2006, cập nhật chủ sở hữu ngày 13/02/2020, bà M đề nghị nhận hiện vật và hoàn trả giá trị tương ứng với phần của ông S, ông L, bà H2 trong khối tài sản chung theo quy định của pháp luật.
Đến hiện tại, ông Hồng L, bà Thu H2 đã nhận giá trị phần được hưởng trong khối tài sản chung bằng tiền mặt, và ký giấy tặng cho kỷ phần tại Phòng Công chứng. Do đó, hiện bà sẽ hoàn trả cho ông S giá trị phần được hưởng trong khối tài sản chung là nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị đơn ông Nguyễn Hồng S trình bày:
Nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản có nguồn gốc của cha mẹ ông tên Nguyễn Văn H3, chết năm 2011 và Hà Thị T2, chết năm 2016 để lại. Cha mẹ ông có tổng cộng 06 người con tên: Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1, Nguyễn Thị Thu H2, Nguyễn Hồng S, Nguyễn Hồng L, Nguyễn Thị Thu H4. Sau khi cha mẹ chết, anh chị em trong nhà có thực hiện kê khai di sản thừa kế của cha mẹ.
Ông Nguyễn Văn H3 không để lại di chúc, bà Hà Thị T2 có di chúc nên phần di sản thừa kế theo pháp luật được các anh chị em thỏa thuận phân chia theo văn bản lập tại Phòng C (phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại đây, ông ký nhận phần kỷ phần của mình nên tên của các anh chị em của ông đã cập nhật tên chủ sở hữu trên giấy chứng nhận.
Đối với khởi kiện của bà M, ông không đồng ý chia nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vì ông không có điều kiện ra ngoài ở.
* Bà Đỗ Thị L1 trình bày:
Bà thống nhất với trình bày và ý kiến của ông Nguyễn Hồng S.
* Bà Nguyễn Thị Thanh H1 trình bày:
Bà thống nhất với trình bày của bà M. Bà đồng ý chia tài sản chung là nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định, bà và bà M thống nhất nhận hiện vật và hoàn giá trị phần tài sản của ông Hồng S trong khối tài sản chung.
* Bà Nguyễn Thị Thu H2 trình bày:
Tại phiên tòa, bà thừa nhận đã nhận được bằng tiền mặt tương đương giá trị phần tài sản của bà trong khối tài sản chung từ bà M, bà H1 và đã thực hiện lập hợp đồng tặng cho một phần quyền sử dụng đất của bà cho bà M và bà H1 tại Văn phòng C1 (số công chứng 15708 quyển số 09/2023 TP/CC-SCC/HĐHD ngày 26/9/2023) nên bà không có ý kiến nào khác.
* Ông Nguyễn Hồng L trình bày:
Cha ông tên Nguyễn Văn H3, chết năm 2011, không có di chúc và mẹ ông tên Hà Thị T2, chết năm 2016, có lập di chúc 37328 ngày 14/11/2013 tại Phòng C có tổng cộng 06 người con tên: Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1, Nguyễn Thị Thu H2, Nguyễn Hồng S, Nguyễn Thị Thu H4 và ông.
Di sản thừa kế là nhà số H B, Phường B, quận B được cấp giấy chứng nhận cho ông H3, bà T2 đã được cập nhật biến động ngày 13/02/2020 về chủ sở hữu theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do Phòng C lập nên đây là tài sản chung của các anh chị em ông. Dựa vào văn bản phân chia này, ông và bà Nguyễn Thị Thu H2 đã đồng ý nhận giá trị phần thừa kế từ cha là ông Nguyễn Văn H3 để lại, mỗi người 1/14 giá trị căn nhà bằng tiền, ông và bà H2 đã ký việc tặng cho phần tài sản trên cho bà M và bà H1. Do đó, ông không còn tranh chấp gì đối với phần của ông trong khối tài sản chung là nhà số H B, Phường B, quận B, đồng thời, ông đề nghị được vắng mặt tại các buổi hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 1140/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
Chia tài sản chung là nhà đất thuộc thửa 45 Tờ bản đồ số 42 tọa lạc số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh được Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC166280 (số vào sổ: H07420) ngày 21/09/2006 cho ông Nguyễn Văn H3 và bà Hà Thị T2, được cập nhật biến động chủ sở hữu ngày 13/02/2020 cho bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1, Nguyễn Hồng S như sau:
- Phần của bà Nguyễn Thị M là 13/28 của khối tài sản chung.
- Phần của bà Nguyễn Thị Thanh H1 là 13/28 của khối tài sản chung.
- Phần của ông Nguyễn Hồng S là 2/28 của khối tài sản chung.
Bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Hồng S giá trị phần sở hữu được chia là 2/28 của giá trị tài sản chung nêu trên. Bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1 được sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà đất nêu trên.
Bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1 có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên nhà đất 80 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Hồng S.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 01/07/2024 bị đơn ông Nguyễn Hồng S nộp đơn kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo, bị đơn ông Nguyễn Hồng S cho rằng giá trị nhà đất tranh chấp theo chứng thư định giá số 008.02/2024/CT-BĐS ngày 06/02/2024 của công ty Cổ phần T3 là thấp so với giá trị thị trường nhưng ông Nguyễn Hồng S không yêu cầu định giá lại vì ông không có khả năng đóng tiền thẩm định giá. Ông không đồng ý chia nhà theo tỉ lệ giá trị phần sở hữu, ông cũng không có tiền để nhận nhà và hoàn lại cho tỉ lệ giá trị phần sở hữu cho các chị của ông. Ông chỉ có một yêu cầu duy nhất là được tiếp tục sinh sống tại căn nhà trên vì cuộc sống của gia đình ông khó khăn, không có điều kiện để dọn ra ngoài sinh sống và căn nhà trên là tài sản của ba mẹ ông để lại nên ông không đồng ý nhận tiền để dọn ra khỏi nhà cũng không đồng ý bán nhà.
Về công sức đóng góp đối với nhà đất trên thì tất cả các anh chị em không có đóng góp tài sản vào nhà đất trên chỉ có công chăm sóc ba mẹ lúc tuổi già. Tài sản vật dụng của gia đình ông trong nhà đất trên không đáng kể chỉ là vật dụng sử dụng cho gia đình nên ông không có yêu cầu.
Bà Nguyễn Thị L2 trình bày: Bà thống nhất ý kiến với ông S.
Luật sư Nguyễn Thị H và Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Thanh H1 thống nhất ý kiến trình bày: Bà M, bà H1 không yêu cầu định giá lại. Nhà đất số H B hiện nay là tài sản chung của bà M, bà H1 và ông S. Tuy nhiên, hiện nay phần bà M và bà H1 trong khối tài sản chung nhiều hơn ông S nên bà M và bà H1 yêu cầu được nhận hiện vật và hoàn tiền theo tỉ lệ giá trị của ông S trong căn nhà trên.
Theo bản án sơ thẩm thể hiện ông S được 1/14 giá trị căn nhà tương đương số tiền là 662.068.066 đồng nhưng bà M, bà H1 đồng ý hỗ trợ thêm cho ông S số tiền 337.931.934 đồng, để ông S nhận được phần giá trị của ông trong căn nhà trên là 1.000.000.000 đồng. Bên cạnh đó, bà M và bà H1 hỗ trợ thêm tiền di dời, thuê nhà cho ông S là 50.000.000 đồng. Bà M và bà H1 đồng ý thanh toán cho ông S số tiền 1.050.000.000 đồng trong thời hạn 3 tháng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật để tạo điều kiện cho ông S di dời và ổn định chổ ở mới. Sau khi đưa đủ số tiền trên cho ông S, đề nghị gia đình ông S dọn ra khỏi nhà và bàn giao lại cho bà M và bà H1 nhà đất số H B. Bà M, bà H1 được trọn quyền sở hữu nhà đất trên và liên hệ cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục cập nhật sang tên theo quy định pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Thu H2 trình bày: Bà thống nhất với ý kiến của bà M, bà H1. Bà đã nhận đủ giá trị được hưởng từ việc chia tài sản đối với căn nhà trên từ bà M, bà H1 và đã ký tặng cho phần tài sản của bà trong căn nhà trên cho bà M và bà H1 nên bà không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của đương sự làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Tòa án chấp nhận. Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các bên tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm: chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Hồng S, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của bà M, bà H1 về việc đồng ý hỗ trợ thanh toán thêm tiền về giá trị phần sở hữu cho ông S từ 662.068.066 đồng thành số tiền 1.000.000.000 đồng và hỗ trợ thêm số tiền di dời và thuê nhà 50.000.000 đồng, thanh toán trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vào ngày 21/06/2024 đến ngày 01/07/2024 bị đơn nộp đơn kháng cáo. Bị đơn đã nộp đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên đơn kháng cáo của bị đơn được chấp nhận.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ngày 14/3/2025 ông Nguyễn Hoàng L3 có mặt tại phiên tòa phúc thẩm nhưng ngày 21/3/2025 ông L3 vắng mặt mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án
[1.3] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp chia tài sản chung; Bất động sản và nơi cư trú của bị đơn đều ở quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm. Do có kháng cáo của bị đơn nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo, ông Nguyễn Hồng S kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị xem xét thẩm định giá lại để đảm bảo việc chia tài sản chung và xem xét đến thời gian lưu cư. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Hồng S chỉ yêu cầu duy nhất được tiếp tục sinh sống tại căn nhà trên vì cuộc sống của gia đình ông khó khăn, không có điều kiện để dọn ra ngoài sinh sống và căn nhà trên là tài sản của ba mẹ ông để lại nên ông không đồng ý nhận tiền để dọn ra khỏi nhà cũng không đồng ý bán nhà.
[2.1] Đối với yêu cầu xem xét thẩm định giá lại: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Hồng S không yêu cầu thẩm định giá lại và các đương sự trong vụ án cũng không có yêu cầu thẩm định giá lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.2] Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn: Xét, về việc chia tài sản chung là nhà đất H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
[2.2.1] Về quyền khởi kiện: Khi có mâu thuẫn về quyền sở hữu hay quyền sử dụng tài sản chung, một bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và theo quy định tại Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015 “mỗi chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu chia tài sản chung”. Bà Nguyễn Thị M khởi kiện ông Nguyễn Hồng S yêu cầu chia tài sản chung là nhà đất số H B, Phường B, Quận B theo giấy chứng nhận số AC166280 (số vào sổ: H07420) do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 21/09/2006 cho ông Nguyễn Văn H3 và bà Hà Thị T2, được cập nhật biến động chủ sở hữu ngày 13/02/2020 cho bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1, Nguyễn Hồng S, ông Nguyễn Hồng L, bà Nguyễn Thị H2 là phù hợp quy định pháp luật. Do đó, ý kiến của ông Nguyễn Hồng S về việc không đồng ý chia nhà theo tỉ lệ giá trị phần sở hữu là không có cơ sở chấp nhận.
[2.2.2] Về việc phân chia tài sản chung:
- Căn cứ vào lời khai của các đương sự và Giấy chứng nhận số AC166280 (số vào sổ: H07426) ngày 21/9/2006 do Ủy ban nhân dân quận B cấp cho ông Nguyễn Văn H3 và bà Hà Thị T2 có đủ cơ sở xác định nhà đất trên có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn H3 và bà Hà Thị T2.
- Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và sự thừa nhận của các đương sự tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn H3, bà Hà Thị T2 có tổng cộng sáu người con tên: Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1, Nguyễn Thị Thu H2, Nguyễn Hồng S, Nguyễn Hồng L, Nguyễn Thị Thu H4.
- Căn cứ Giấy chứng tử số 110/2011 quyển số 01/2011 của Ủy ban nhân dân Phường B, quận B, ông Nguyễn Văn H3 chết ngày 20/09/2011, và theo Trích lục khai tử số 01/TLKT do Ủy ban nhân dân Phường B, quận B cấp ngày 05/01/2016, bà Hà Thị T2 chết ngày 01/01/2016 nên xác định nhà đất nêu trên là di sản thừa kế của ông H3, bà T2.
- Căn cứ Di chúc của bà Hà Thị T2 ngày 14/11/2013 tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 37328, quyển số 8 TP/CC-SCC/HDGD với nội dung: “... Sẽ được trọn quyền thừa hưởng phần nhà và đất thuộc quyền sở hữu của tôi và phần của tôi được hưởng thừa kế của chồng tôi là ông Nguyễn Văn H3 trong căn nhà và đất nêu trên. Ngoài những người có tên nêu trên, tôi không để lại di sản thừa kế của tôi cho bất cứ ai khác”.
Ông Nguyễn Văn H3 sinh năm 1926, chết trước bà Hà Thị T2 mà không để lại di chúc, cha mẹ của ông H3 đều chết trước ông H3, nên phần tài sản của ông H3 trong khối tài sản chung với bà Hà Thị T2 là 1/2 giá trị nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản của ông H3 để lại được chia thừa kế theo quy định tại Điều 649, Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tại thời điểm mở thừa kế của ông H3, những người thừa kế theo pháp luật là bảy người gồm bà T2, bà M, bà H1, bà H2, ông S, ông L, bà H4 nên mỗi người được hưởng kỷ phần của mình là 1/7, tài sản để lại của ông H3 tương đương 1/7 của 1/2 nhà đất H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh = 1/14 nhà Đ B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vậy sau khi chia thừa kế của ông Nguyễn Văn H3, phần sở hữu của các đồng thừa kế trong khối tài sản là nhà đất H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
- Bà Hà Thị T2 sở hữu 1/2 nhà đất + kỷ phần được hưởng 1/14 nhà đất = 8/14, nhà đất.
- Đối với bà M, bà H1, bà H2, ông S, ông L, bà H4, mỗi người sở hữu kỷ phần được hưởng là 1/14 nhà đất.
Căn cứ Giấy chứng nhận số AC166280 (số vào sổ: H07426) do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 21/9/2006 và được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C1 cập nhật ngày 13/02/2020 thể hiện nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý như sau: Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Thanh H1 nhận thừa kế, nhận tặng cho và bà H2, ông S, ông L nhận thừa kế theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 08/01/2020, số công chứng 484, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD, lập tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo thỏa thuận phân chia ngày 08/01/2020, phần sở hữu của bà M, bà H1, bà H2, ông S và ông L đối với nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện bà H4 tặng cho kỷ phần của mình cho bà M, bà H1 và bà T2 để lại toàn bộ phần di sản của bà T2 cho bà M, bà H1 nên tài sản chung được xác định như sau : Bà M và bà H1 mỗi người được hưởng 11/28 giá trị nhà đất. Bà H2, ông L, ông S mỗi người được 2/28 nhà đất.
Ông Nguyễn Hồng L và bà Nguyễn Thị Thu H2 đã nhận phần giá trị phần sở hữu của mình trong khối tài sản chung là nhà đất số H B, từ bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị H1 và ông L, bà H2 đã ký Hợp đồng tặng cho một phần quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) để tặng cho bà M và bà H1 nên phần sở hữu của bà M, bà H1, ông S trong khối tài sản chung nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định lại như sau: Bà M, bà H1 mỗi người được hưởng 13/28 giá trị nhà đất. Ông S được hưởng 2/28 nhà đất.
Về yêu cầu nhận hiện vật của bà M và bà H1: Căn cứ Điều 219 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thể hiện: “Khi chia tài sản chung nếu tài sản không thể chia theo hiện vật, có thể chia theo giá trị bằng cách giao tài sản cho một hoặc một số người sở hữu chung và thanh toán phần chênh lệch cho người khác” và căn cứ Điều 223 Điều 219 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thể hiện: “Khi chia tài sản chung nếu không thể chia theo hiện vật hoặc chia ra làm giảm giá trị sử dụng, tòa án có thể quyết định giao hiện vật cho một người và người đó phải hoàn trả giá trị tương ứng cho những người còn lại”. Bà M, bà H1 và ông S cùng hiện đang cư ngụ tại nhà đất 80 B, ông S không có yêu cầu được nhận hiện vật. Bà M, bà H1 yêu cầu được nhận hiện vật và hoàn lại phần giá trị theo tỉ lệ cho ông S. Xét, phần sở hữu của bà M và bà H1 tổng cộng là : 26/28 nhà đất, chiếm tỷ lệ: 92,86% nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, nên yêu cầu của bà M, bà H1 về việc hưởng bằng hiện vật và hoàn giá trị tương ứng phần còn lại cho ông S là có căn cứ.
Xét tại phiên tòa sơ thẩm, ông S và bà L2 đều thừa nhận ông bà có sở hữu một căn nhà khác tại số D Đường số 1, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đang được thế chấp tại ngân hàng và căn nhà này đang được cho người khác thuê nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông S về việc được tiếp tục sinh sống tại nhà đất số H B vì cuộc sống của gia đình ông khó khăn, không có điều kiện để dọn ra ngoài sinh sống và căn nhà trên là tài sản của ba mẹ ông để lại.
Theo Chứng thư thẩm định giá số 008.02/2024/CT-BĐS ngày 06/02/2024, Công ty Cổ phần T3 đã thực hiện phương pháp so sánh, phương pháp chiết trừ và phương pháp chi phí thay thế để thẩm định giá trị của nhà đất số H B, Phường B, quận B tại thời điểm thẩm định giá tháng 02/2024 là 9.268.952.930 đồng. Do đó, giá trị phần sở hữu của Ông S là 1/14 x 9.268.952.930 đồng = 662.068.066 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M và bà H1 đồng ý hỗ trợ thanh toán thêm về giá trị phần sở hữu cho ông S được hưởng từ số tiền 662.068.066 đồng thành số tiền 1.000.000.000 đồng và hỗ trợ thêm số tiền di dời và thuê nhà 50.00.000 đồng, thanh toán trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật là có lợi cho ông S cũng như tạo điều kiện cho ông S di dời và ổn định chổ ở nên Hội đồng xét xử chấp nhận và sửa bản án sơ thẩm về việc ghi nhận sự tự nguyện của bà M, bà H1.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần sửa bản án sơ thẩm để ghi nhận sự tự nguyện của bà M, bà H1 về việc hổ trợ thanh toán tăng thêm số tiền về giá trị sở hữu căn nhà và tiền di dời, thuê nhà cho ông S là 1.050.000.000 đồng, thanh toán một lần trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật. Sau khi bà M, bà H1 thanh toán cho ông S đủ số tiền trên, bà M và bà H1 được liên hệ cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà đất tại số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và gia đình ông S có trách nhiệm dọn và giao nhà đất trên cho bà M, bà H1 là phù hợp với quy định pháp luật.
[3] Tại phiên tòa, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở và phù hợp với nhận định trên nên có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Thanh H1 thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí nên căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bà M, bà H1 được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 7 Điều 28 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị đơn ông Nguyễn Hồng S phải chịu án phí trên giá trị của phần được hưởng theo Chứng thư thẩm định giá số 008.02/2024/CT-BĐS nên ông S phải nộp án án phí sơ thẩm giải quyết tranh chấp về dân sự là 30.483.000 đồng (Ba mươi triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng).
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
- Căn cứ Luật thi hành án Dân sự;
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hồng S. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 1140/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
1.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
- Xác định nhà đất tọa lạc số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC166280 (số vào sổ: H07420) do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp 21/09/2006 và được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C1 cập nhật ngày 13/02/2020 là tài sản chung của bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1, Nguyễn Hồng S theo tỷ lệ như sau: Bà Nguyễn Thị M là 13/28 giá trị nhà đất, bà Nguyễn Thị Thanh H1 là 13/28 giá trị nhà đất, ông Nguyễn Hồng S là 2/28 giá trị nhà đất.
- Bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Hồng S giá trị phần sở hữu tài sản chung tại H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ) đồng và tiền hỗ trợ di dời, thuê nhà là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu) đồng. Thanh toán trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Ngay sau khi bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1 thanh toán xong số tiền 1.050.000.000 đồng (một tỷ không trăm năm mươi triệu đồng) cho ông Nguyễn Hồng S, buộc ông Nguyễn Hồng S, bà Đỗ Thị L1, trẻ Nguyễn Hồng T, Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Thị Hồng N và những người đang cư trú khác trong nhà đất trên (nếu có), có trách nhiệm dọn ra khỏi nhà và bàn giao nhà đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Thanh H1. Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Thanh H1 được trọn quyền sở hữu nhà đất trên.
Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Thanh H1 có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà, đất số H B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Thanh H1 tự nguyện nộp thuế sử dụng đất và các loại thuế, phí khác trong quá trình làm thủ tục hợp thức hóa nhà, đất này.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
1.2. Án phí sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị Thanh H1 được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Hồng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 30.483.000 đồng (Ba mươi triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng).
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả cho ông Nguyễn Hồng S số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0028880 ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 225/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia tài sản chung
- Số bản án: 225/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản chung
