Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 225/2024/HS-ST

Ngày 27-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 836/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nghiêm Việt A, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1985, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: SỐ B N, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số C A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Văn T (đã chết) và bà Lê Thị L; bị cáo có vợ Phạm Thị Ngọc M và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Án số 84/HSST ngày 28/8/2009 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, Hải Phòng xử 09 tháng tù về tội Đánh bạc, Án số 01/HSST ngày 05/01/2011 Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xử 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/7/2023; có mặt.
  2. Nguyễn Khắc C, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1992, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: SỐ A P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A P, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc D (đã chết) và bà Đinh Thị X; bị cáo có vợ Nguyễn Thị B và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/7/2023; có mặt.
  3. Đào Duy K, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1994, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: SỐ C Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số H K, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Thanh H và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/7/2023; có mặt.
  4. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1996, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: Thôn D xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Vũ Thị P; bị cáo có vợ Đào Hồng H2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/7/2023; có mặt.
  5. Hoàng Minh D1, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1996, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: SỐ A T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A T, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh D2 (đã chết) và bà Đỗ Thị O; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/7/2023; có mặt.
  6. Tạ Hữu H3, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1993, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số C T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Hữu T3 và bà Đào Thị M1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/7/2023; có mặt.

- Bị hại:

  • + Anh Bùi Mạnh G, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số A đường Đ, Đ, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  • + Anh Đồng Quốc D3, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn Q, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Viết T4, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn P, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
  • + Anh Phùng Hùng Ý, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 01/2023, anh Đồng Quốc D3 (sinh năm 1999, trú tại: thôn Q, xã Đ, huyện K, Hải Phòng) hỏi mượn của anh Bùi Mạnh G (sinh năm 1996, trú tại: số A đường Đ, Đ, H, Hà Nội) 01 con chip tự chế kích thước khoảng 06cm x 03cm dùng để kích điểm khi chơi máy điện tử bắn cá và máy điện tử xèng (con chip này do anh G mua trên mạng trước đó của một người không quen biết). Sáng ngày 06/01/2023, anh D3 mang theo con chip đến chơi điện tử ở quán số B Quán T, quận K, Hải Phòng. Anh Dũng mua 100.000 đồng tiền điểm và dùng chip kích điểm chơi, thắng được khoảng 4.300.000 đồng đến 4.400.000 đồng. Đến chiều ngày 06/01/2023 anh D3 rủ anh Nguyễn Viết T4 (sinh năm 1986, trú tại: thôn P, xã V, huyện K, Thái Bình) đi chơi điện tử cùng. Anh D4 và T4 đến quán Đ Quán T, mua 1.000.000 đồng tiền điểm và dùng chip kích điểm để chơi, thắng được 3.200.000 đồng, cả hai đã chia nhau tiêu xài cá nhân và hẹn hôm sau đi chơi tiếp. Đến tối ngày 06/01/2023 anh D4 nhắn tin rủ G xuống Hải Phòng chơi máy điện tử bắn cá. Trưa ngày 07/01/2023, anh G rủ bạn là anh Phùng Hùng Ý (sinh năm 1980, trú tại: thôn Q, xã P, huyện B, Hà Nội) đi cùng. Khoảng 14 giờ cùng ngày anh G, Ý, T4, D4 gặp nhau rồi cùng đi vào quán điện tử bắn cá ở B T, phường V, quận L, Hải Phòng để chơi, nhân viên trông quán là Hoàng Minh D1. Tại đây, cả nhóm đã mua khoảng 300.000 đồng đến 400.000 đồng tiền điểm, dùng chip kích điểm chơi, thắng được khoảng hơn 4.000.000 đồng, số tiền này mỗi người vẫn cầm một ít, chưa gom chung lại để chia nhau. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, cả nhóm đến quán Đ1 ở B L, phường K, quận L, Hải Phòng để chơi tiếp. Sau khi mua được khoảng 400.000 đồng tiền điểm và dùng chip kích điểm thắng được số tiền khoảng 3.800.000 đồng thì nhân viên trông quán là Tạ Hữu H3 phát hiện nhóm chơi gian lận nên đã báo chủ quán Nguyễn Khắc C, Nghiêm Việt A và Hoàng Minh D1 đến. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày C, Việt A, D1 đến quán, nhóm của anh G thấy thế định bỏ chạy thì D1 kéo cửa cuốn của quán xuống. Việt A lao vào dùng tay chân đánh anh G và hỏi con chip kích điểm ở đâu thì phát hiện G đang cất con chíp trong người. Cả nhóm anh G bị C dùng ghế, Việt A dùng thanh inox kéo cửa cuốn, D1 dùng tay chân đánh. Lúc này, Nguyễn Văn T1 được C và D1 gọi đến cũng vào quán dùng tay chân đánh nhóm anh G. D1 yêu cầu nhóm anh G bỏ hết tiền và đồ vật ra, nhóm anh G đã bỏ 01 con chip kích điểm, 01 bình xịt hơi cay, điện thoại, ví và tổng số tiền là 8.390.000 đồng lên bàn. Nhóm Việt A hỏi nhóm anh G đã dùng con chip kích điểm như thế nào, ở những quán nào, được bao nhiêu tiền. Nhóm anh G thực hiện lại cách dùng chíp kích điểm, thừa nhận đã chơi gian lận ở các quán điện tử bắn cá được khoảng hơn 10.000.000 đồng, xin lỗi và xin trả lại tiền. Sau đó, Việt A bảo nhóm anh G cầm lại tiền, ví, điện thoại và đưa cả nhóm anh G sang quán điện tử bắn cá ở 220 Quán Trữ để nhân viên nhận mặt và thực hiện lại cách thức dùng con chip để kích điểm của máy chơi xèng. Việt A gọi điện cho anh Trương Văn H4 (sinh năm 1980, trú tại: số A Hồ S, D, L, Hải Phòng) để mượn xe ô tô đi có việc. Khoảng 15 phút sau anh H4 lái xe ô tô biển kiểm soát 15A-06866 đến, Việt A, anh G, T4, Ý lên xe ô tô do anh H4 chở, còn T1 chở anh D4, D1 bằng xe một mô tô, C, H3 đi hai xe mô tô theo sau sang quán điện tử 220

3

Quán T. Tại đây, anh H4 ngồi bên ngoài quán uống nước, còn nhóm Việt A đưa nhóm anh G vào trong quán, đóng cửa quán lại, rồi yêu cầu nhóm anh G bỏ 8.390.000 đồng và điện thoại lên bàn, nhân viên quán tên là B1 (chưa xác định được lai lịch địa chỉ) xác nhận nhóm anh G có người đã chơi điện tử ở quán vào hôm trước. Lúc này, Đào Duy K là người chung vốn cùng Việt A và C mở các quán điện tử bắn cá, được Việt A, C gọi điện đến, K chửi và dùng tay chân, ghế đánh anh G, T4, Ý. Nhóm Việt A yêu cầu nhóm G cộng lại số tiền đã gian lận ở các quán và ước lượng tổng số tiền là 18.000.000 đồng, nhóm anh G đồng ý trả lại số tiền trên. Do nhóm anh G chỉ có 8.390.000 đồng nên nhóm Việt A yêu cầu phải trả đủ tiền nếu không sẽ không tha và báo Công an. Nhóm anh G gọi điện cho người quen để vay tiền. Lúc này, thấy bên ngoài quán có người lạ mặt (không xác định được lai lịch địa chỉ) đến hỏi, sợ lộ chuyện nên nhóm Việt A bảo anh G cầm lại tiền và đưa cả nhóm anh G ra khu vực bờ đê xã H, huyện A, Hải Phòng. Việt A chở cả 4 người nhóm G trên xe ô tô của anh H4, còn anh H4, D1, C, K, H3, T1 đi xe mô tô theo sau. Trên đường đi bạn của anh D4 là anh Phạm Văn H5 (sinh năm 1990, trú tại: thôn Q, xã Đ, K, Hải Phòng đã chuyển vào tài khoản của Nguyễn Văn T1 số tiền 3.000.000 đồng. Tại bờ đê bạn gái của anh G là Phạm Thị H6 (sinh năm 1996, trú tại: 16/276 Đ, Đ, H, Hà Nội) chuyển vào tài khoản anh G, sau đó anh G chuyển vào tài khoản của Nguyễn Văn T1 số tiền 2.000.000 đồng, do chưa đủ 18.000.000 đồng nên anh D4 đề nghị đi cầm cố điện thoại để trả nốt. Sau đó, cả nhóm anh G cùng anh H4, C lên xe ô tô Việt A điều khiển, G vẫn cầm số tiền 8.390.000 đồng, T1 có việc về trước, còn D1, K, H3 đi xe mô tô theo sau xe V. Khoảng 0 giờ 10 phút ngày 08/01/2023 khi cả hai nhóm đang làm thủ tục cầm đồ tại quán số B T, phường T, quận L, Hải Phòng thì lực lượng công an đến kiểm tra, thấy có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên đưa tất cả về trụ sở Công an phường T làm việc.

Ngay sau đó, Tạ Hữu H3 giao nộp cơ quan Công an 01 máy điện tử bắn cá kích thước 02mx1,5mx0,7m đã qua sử dụng, Hoàng Minh D1 giao nộp 01 con chip tự chế kích thước khoảng 06cmx03cm, anh Đồng Quốc D3 đã giao nộp 01 điện thoại Iphone 11, anh Bùi Mạnh G giao nộp 01 điện thoại Iphone Xsmax và 8.390.000 đồng, anh H4 giao nộp 01 xe ô tô biển kiểm soát 15A- 06866. Tiến hành kiểm tra điện thoại của anh D3 và G có nội dung thể hiện việc chuyển khoản 3.000.000 đồng và 2.000.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Văn T1 như trên. Kiểm tra điện thoại của anh Trương Văn H4 có cuộc gọi của Nghiêm Việt A tới anh H4 vào lúc 20 giờ 33 phút.

Khoảng 09 giờ ngày 08/1/2023 cơ quan Công an tiến hành khám nghiệm hiện trường tại quán Đ Quán T thấy có 03 máy chơi điện tử bắn cá kích thước khác nhau và 02 máy điện tử chơi xèng kích thước 48cmx65cmx33cm. Khoảng 11 giờ cùng ngày, cơ quan Công an tiến hành khám nghiệm hiện trường tại quán số 25 Lê Văn T5 thấy cửa ra vào là cửa cuốn bằng nhôm, trong quán đặt 03 máy điện tử có kích thước 02mx1,5mx0,7m; thu giữ 01 thanh inox dài 1,34 m, đường kính 0,07 m, một đầu có móc, bị gãy gập tại vị trí cách đầu có móc 0,3m. Nghiêm Việt A xác nhận thanh inox trên chính là công cụ Việt A sử dụng để đánh nhóm anh Bùi Mạnh G.

4

Ngày 13/4/2023 Nguyễn Văn T1 giao nộp cơ quan Công an số tiền 5.000.000 đồng đã nhận qua hình thức chuyển khoản từ anh Đồng Quốc D3 và Bùi Mạnh G.

Ngày 15/11/2023 Phòng P1 Công an thành phố H trả lời không có chức năng giám định máy bắn cá nên không tiếp nhận giám định. Kết luận giám định số 8410/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của V1 Bộ C1: không xác định được thiết bị tự chế có kích thước khoảng 06x03cm mẫu cần giám định có chức năng kích điểm máy điện tử bắn cá, máy điện tử xèng hay không. Do đó không xác định được nguyên lý hoạt động của thiết bị trên.

Tại Cơ quan điều tra Nghiêm Việt A, Nguyễn Khắc C, Đào Duy K, Nguyễn Văn T1, Tạ Hữu H3, Hoàng Minh D1 khai nhận nội dung vụ án như trên. Việc đánh nhóm của anh G là do bực tức khi phát hiện nhóm anh G chơi điện tử gian lận và để nhóm anh G khai ra việc sử dụng con chip kích điểm. Quá trình di chuyển các địa điểm nhằm mục đích để nhóm anh G tìm cách trả lại tiền. Do không có sổ sách ghi chép nên nhóm của Việt A không biết nhóm của anh G chơi thắng được bao nhiêu điểm, và không biết lúc nào nhóm anh G chơi sử dụng máy kích điểm để gian lận, lúc nào chơi thắng không có gian lận, vì vậy chỉ ước lượng đòi số tiền là 18.000.000 đồng. Ngoài ra các đối tượng khai: Nghiêm Việt A mượn xe của anh Trương Văn H4 nói đi giải quyết công việc, nhưng không ai nói cho H4 cụ thể việc gì. Khi ở quán Đ2 anh H4 vừa đến đứng ở ngoài cửa sau đó lên xe ô tô đi ngay, tại quán điện tử B Quán T anh H4 không vào trong quán mà ngồi bên ngoài uống nước nên không được chứng kiến sự việc. Anh H4 không được bàn bạc gì và không đánh ai.

Anh Trương Văn H4 khai phù hợp với lời khai của các đối tượng trong nhóm Việt A, khi đến 25 Lê Văn T5 và quá trình ở các địa điểm anh không vào trong quán và cũng không ai nói việc gì nên không biết sự việc cụ thể như thế nào. Tại khu vực bờ đê anh đi vệ sinh và ngồi chơi điện thoại cách nhóm của Việt A khoảng 20m, trời tối nên anh không để ý. Khi từ bờ đê đi anh H4 có nghe thấy việc nhóm anh G gian lận tiền chơi điện tử nhưng cụ thể nội dung vụ việc như thế nào thì không rõ. Khi đến quán cầm đồ anh H4 cũng không biết cụ thể ai cầm cố và cầm cố tài sản gì.

Các anh Bùi Mạnh G, Phùng Hùng Ý, Nguyễn Viết T4, Đồng Quốc D3 có lời khai phù hợp với nội dung vụ án như trên. Việc di chuyển các địa điểm các anh tự nguyện đi cùng nhóm của Việt A để tìm cách trả lại tiền. Do biết nhóm mình đã sai và sợ nhóm của Việt A sẽ không tha và báo Công an nên G, Ý, T4, D3 tìm mọi cách để trả lại tiền. Trong tổng số tiền anh Bùi Mạnh G giao nộp anh G, Ý, T4, D3 không biết chính xác số tiền mang đi là bao nhiêu và đã tiêu xài bao nhiêu, tiền chơi gian lận do sử dụng con chip kích điểm, tiền chơi thắng không có gian lận là bao nhiêu, do vậy không đề nghị nhận lại. Đối với những thương tích bị nhóm của Việt A đánh, do thương tích nhẹ, bầm tím, xây xước ngoài da, nên không yêu cầu giám định thương tích.

Vật chứng của vụ án: 01 thanh inox dài 1,34 m, đường kính 0,07 m, một đầu có móc, bị gãy gập tại vị trí cách đầu có móc 0,3 m; 01 máy bắn cá kích thước

5

02mx1,5mx0,7m đã qua sử dụng; 01 con chip tự chế kích thước khoảng 06cmx03cm và 8.390.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại anh Đồng Mạnh D5 và Bùi Mạnh G số tiền 5.000.000 đồng và 02 điện thoại đã thu giữ; trả lại anh Trương Văn H4 01 xe ô tô mang biển kiểm soát 15A-068.66

Về dân sự: Các anh Bùi Mạnh G, Phùng Hùng Ý, Nguyễn Viết T4, Đồng Quốc D3 không có yêu cầu bồi thường đối với thương tích do nhóm Việt A gây ra.

Đối với anh Trương Văn H4 có hành vi cho Nghiêm Việt A mượn xe ô tô nhưng không biết đi đâu, không tham gia vào việc chiếm đoạt tài sản của các bị hại nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L xử lý.

Đối với anh Bùi Mạnh G, Phùng Hùng Ý, Nguyễn Viết T4, Đồng Quốc D3 có hành vi sử dụng con chip để kích điểm khi chơi máy điện tử bắn cá, máy điện tử xèng, tuy nhiên không xác định chính xác số tiền đã gian lận là bao nhiêu nên chưa đủ căn cứ để xử lý.

Đối với việc Nghiêm Việt A, Nguyễn Khắc C, Nguyễn Văn T1, Đào Duy K và Hoàng Minh D1 có hành vi dùng tay chân, ghế, thanh inox đánh anh G, Ý, T4, D3 vì bực tức việc các bị hại sử dụng con chip kích điểm để gian lận trong khi chơi điện tử đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử phạt hành chính.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSLC ngày 26/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nghiêm Việt A, Nguyễn Khắc C, Nguyễn Văn T1, Đào Duy K, Hoàng Minh D1, Tạ Hữu H3 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa đã được chủ tọa công bố các bản khai có trong hồ sơ thể hiện không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

  • + Bị cáo Nghiêm Việt A mức án 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 60 tháng về tội Cưỡng đoạt tài sản.
  • + Bị cáo Nguyễn Khắc C, Nguyễn Văn T1, Đào Duy K và Hoàng Minh D1, mỗi bị cáo mức án 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 đến 48 tháng về tội Cưỡng đoạt tài sản.
  • + Bị cáo Tạ Hữu H3 mức án 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng về tội Cưỡng đoạt tài sản.
  • - Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Việc bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự nên không đặt vấn đề

6

giải quyết. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chíp tự chế kích thước khoảng 6cm x3cm một mặt chíp cuốn dây đồng và có gắn 01 miếng nhựa màu vàng, một mặt gắn một viên pin bằng kim loại sáng màu được V1 Bộ C1 niêm phong trong một phong bì có chữ ký giám định viên; 01 cây gậy bằng inox dài 1,34m, đường kính 0,07m, một đầu có móc bị gãy gập tại vị trí cách đầu móc 0,3m; 01 máy bắn cá không rõ nhãn hiệu kích thước 2mx1,5mx0,7m đã qua sử dụng, cũ nát. Trả lại cho bị hại anh G, Ý, T4 và D3 mỗi người số tiền 2.097.500 đồng. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người làm chứng, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/01/2023 đến khoảng 0 giờ 10 phút ngày 08/01/2023 tại quán Đ3 L, phường K, quận L, Hải Phòng; quán Đ, quận K, Hải Phòng; bờ đê xã H, huyện A, Hải Phòng và số B T, phường T, quận L, Hải Phòng các bị cáo Nghiêm Việt A, Nguyễn Khắc C, Đào Duy K, Nguyễn Văn T1, Hoàng Minh D1, Tạ Hữu H3 đã có hành vi dọa báo Công an, uy hiếp tinh thần của các anh Bùi Mạnh G, Phùng Hùng Ý, Nguyễn Viết T4, Đồng Quốc D3 nhằm chiếm đoạt số tiền 18.000.000 đồng là số tiền các bị cáo cho rằng các bị hại đã gian lận khi chơi điện tử. Như vậy, hành vi của các bị cáo Nghiêm Việt A, Nguyễn Khắc C, Đào Duy K, Nguyễn Văn T1, Hoàng Minh D1 và Tạ Hữu H3 đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, tạo dư luận xấu trong cộng đồng dân cư, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa xã hội. Vì vậy việc đưa các bị cáo ra xét xử trước pháp luật là cần thiết để giáo dục, cải tạo các bị cáo.

7

- Về tình tiết tăng nặng:

[5] Các bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị hại có lỗi một phần là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

- Xét vai trò của các bị cáo:

[7] Các bị cáo Việt A, C, K, T1 và D1 đều có hành vi trực tiếp đe dọa uy hiếp tinh thần các bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo H3 tham gia giúp sức nên có vai trò thấp nhất. Bị cáo Việt A có vai trò chính, nhân thân xấu vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án cao hơn so với các bị cáo khác. Các bị cáo C, K, T1, D1 có vai trò ngang nhau nên các bị cáo có mức án bằng nhau nhưng thấp hơn bị cáo Việt A và cao hơn bị cáo H3.

- Về hình phạt:

[8] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại cũng có lỗi một phần. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo cũng đủ tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 170 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

- Việc bồi thường thiệt hại:

[10] Các bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về việc xử lý vật chứng:

[11] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 chíp tự chế kích thước khoảng 6cm x3cm một mặt chíp cuốn dây đồng và có gắn 01 miếng nhựa màu vàng, một mặt gắn một viên pin bằng kim loại sáng màu; 01 cây gậy bằng inox dài 1,34m, đường kính 0,07m, một đầu có móc bị gãy gập tại vị trí cách đầu móc 0,3m; 01 máy bắn cá không rõ nhãn hiệu kích thước 2mx1,5mx0,7m là vật không sử dụng được.
  • + Số tiền 8.390.000 đồng là tiền của các bị hại anh G, Ý, T4 và D3 chung nhau để trả cho các bị cáo nhưng không xác định được số tiền mỗi người góp vào bao nhiêu nên cần chia đều cho 04 người và trả lại cho các anh G, Ý, T4, D3 mỗi người là 2.097.500 đồng.

8

- Về án phí:

[12] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

[13] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nghiêm Việt A, Nguyễn Khắc C, Đào Duy K, Nguyễn Văn T1, Hoàng Minh D1 và Tạ Hữu H3 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt:

  • + Bị cáo Nghiêm Việt A 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Bị cáo Nguyễn Khắc C 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Đào Duy K 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Nguyễn Văn T1 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Hoàng Minh D1 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Tạ Hữu H3 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nghiêm Việt A và Tạ Hữu H3 cho Ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Giao các bị cáo Nguyễn Khắc C và Đào Duy K cho Ủy ban nhân dân phường V, quận L, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Giao bị cáo Hoàng Minh D1 cho Ủy ban nhân dân phường T, quận K, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

9

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 chíp tự chế kích thước khoảng 6cm x3cm một mặt chíp cuốn dây đồng và có gắn 01 miếng nhựa màu vàng, một mặt gắn một viên pin bằng kim loại sáng màu được V1 Bộ C1 niêm phong trong một phong bì có chữ ký Giám định viên; 01 cây gậy bằng inox dài 1,34m, đường kính 0,07m, một đầu có móc bị gãy gập tại vị trí cách đầu móc 0,3m; 01 máy bắn cá không rõ nhãn hiệu kích thước 2m x1,5mx0,7m đã qua sử dụng, cũ nát theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
  • + Trả lại cho anh Bùi Mạnh G, Phùng Hùng Ý, Nguyễn Viết T4 và Đồng Quốc D3 mỗi người số tiền 2.097.500 (hai triệu không trăm chín mươi bẩy nghìn năm trăm) đồng theo ủy nhiệm chi ngày 05/02/2024 tại kho bạc nhà nước L1.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Nghiêm Việt A, Nguyễn Khắc C, Đào Duy K, Nguyễn Văn T1, Hoàng Minh D1 và Tạ Hữu H3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo Nghiêm Việt A, Nguyễn Khắc C, Đào Duy K, Nguyễn Văn T1, Hoàng Minh D1, Tạ Hữu H3 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - PV 06, PC 10 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân dân phường phường An Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • -Ủy ban nhân dân phường phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân dân xã Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân dân phường phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hương

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 225/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 225/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NVA cùng đồng bọn Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger