|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
|
Bản án số: 225/2024/DS-ST Ngày: 18-9-2024 Về tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Kiệt.
- Bà Nguyễn Thị Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Yến Oanh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan T - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 449/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-DS ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đoàn Trần Minh T1, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Phước D, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ liên hệ: Tổ H, Ấp H, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
(Giấy ủy quyền ngày 21/11/2023).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948 (Vắng mặt).
Địa chỉ: B Đ, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ liên hệ: 3 L, phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công Ty TNHH A (Vắng mặt).
Địa chỉ: 8 L, phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo pháp luật của công ty: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1948
- Giám đốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 11 năm 2023 của nguyên đơn Đoàn Trần Minh T1 trình bày: Ngày 10 tháng 8 năm 2021, anh T1 cho bà B vay số tiền 1.000.000.000 đồng có lập Hợp đồng vay tiền giữa Bên cho vay anh T1 và Bên vay bà B, được công chứng tại Văn phòng C có Số công chứng 6435 quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD. Anh T1 đã giao đủ tiền cho bà B được ghi nhận trong Văn bản thỏa thuận về việc giao tiền và thế chấp các tài sản của các Trung Tâm Anh Ngữ L do bà B làm Giám đốc Công ty TNHH A ký, đóng dấu và giao bản sao Giấy chứng nhận Trung Tâm Anh Ngữ L cho anh T1 để làm tin, thực tế bà B không có giao bất kỳ tài sản của bất kỳ Trung Tâm Anh Ngữ L cho anh T1. Khi vay các bên thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng, thời hạn vay 12 tháng. Khoản vay này là cá nhân bà Bà B1 vay của anh T1, việc bà B1 với tư cách là người đại diện Công ty TNHH A ký, đóng dấu cũng vì mục đích tạo niềm tin cho anh T2. Tính đến nay thời hạn bà B1 trả tiền vay, tiền lãi cho anh T1 đã quá hạn nhiều năm, nhưng bà B1 không thực hiện và né tránh. Do đó anh T1 kiện và yêu cầu bà B1 trả cho anh T1 tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng, tiền lãi vay theo mức lãi suất 1,66%/tháng từ ngày 11/8/2022 tạm tính đến 11/11/2023. Tuy nhiên tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 15/9/2024 của anh D là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi về thời điểm tính lãi từ 10/8/2021 đến ngày 10/8/2024 là 36 tháng là 597.600.000 đồng, tổng cộng là 1.597.600.000 đồng, yêu cầu bà B1 trả khi án có hiệu lực pháp luật.
* Bị đơn Nguyễn Thị B và Công Ty TNHH A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Nhưng đương sự không gửi văn bản nêu ý kiến và vắng mặt không rõ lý do.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký Tòa án và nguyên đơn tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn Nguyễn Thị B và Công Ty TNHH A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung theo lập luận nêu tại bài phát biểu. Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị B trả số tiền 1.000.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng, tính từ ngày 10/8/2021 đến ngày 10/8/2024 (36 tháng) là 597.600.000 đồng, tổng số tiền gốc và lãi là 1.597.600.000 đồng, trả khi án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Trần Minh T1 đối với bà Nguyễn Thị B là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
[2] Tại phiên tòa, anh Nguyễn Phước D là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 15/9/2024. Bị đơn Nguyễn Thị B và Công Ty TNHH A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố Tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về thời gian tính tiền lãi vay.
Nhận thấy, tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 11 năm 2023, anh T1 đã yêu cầu bà B trả tiền lãi tính từ 11/8/2022 tạm tính đến ngày 11/11/2023. Nhưng tại văn bản trình bày ngày 15/9/2024, anh D là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 10/8/2021 đến 10/8/2024.
Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của anh D là người đại diện của nguyên đơn về thời gian tính tiền lãi vay không vượt phạm vi ủy quyền theo nội dung Giấy ủy quyền ngày 21/11/2023. Thời hạn tính lãi như trên có thay đổi, nhưng để giải quyết triệt để và toàn diện vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu của anh Đoàn Trần Minh T1 yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả tiền gốc và tiền lãi vay.
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của anh T1, ý kiến của anh D là người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong văn bản ngày 15/9/2024 về Bản gốc “Hợp đồng vay tiền” ngày 10/8/2021 (Viết tắt: Hợp đồng vay tiền) được công chứng tại Văn phòng C có Số công chứng 6435 quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD về “Văn bản thỏa thuận về việc giao tiền về thế chấp các tài sản của các Trung Tâm Anh Ngữ L” (Viết tắt: Văn bản thỏa thuận), Hội đồng xét xử nhận thấy: Giữa anh T1 và bà B có xác lập quan hệ vay tiền, bên cho vay anh T1 và Bên vay bà B, số tiền bà B vay của anh T1 1.000.000.000 đồng và bà B đã nhận đủ tiền vay của anh T1 ghi nhận tại “Văn bản thỏa thuận”, vay có kỳ hạn 01 năm kể từ ngày hợp đồng được công chứng, lãi suất vay do hai bên tự thỏa thuận theo quy định pháp luật về giao dịch vay giữa anh T1 và bà B là vay có lãi.
Về thời hạn vay, tại Điều 1 của Hợp đồng vay tiền là 01 năm kể từ ngày hợp đồng này được chứng nhận và thời hạn tính kể từ ngày Hợp đồng vay tiền được công chứng 1 ngày 10/8/2021. Thời hạn bà B trả tiền vay cho anh T1 01 năm kể từ ngày 10/8/2021 đến hạn vào ngày 10/8/2022. Nhưng bà B không thực hiện trả tiền cho anh T1 vì vi phạm thỏa thuận về thời hạn trả tiền làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh T1. Do đó anh T1 kiện yêu cầu bà B trả tiền vay 1.000.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về yêu cầu bà B trả tiền lãi vay cho anh T1, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại Điều 1 của Hợp đồng vay tiền ngày 10/8/2021 có ghi “Lãi suất vay: do hai bên tự thỏa thuận theo quy định pháp luật.”. Anh T1 và anh D là người đại diện của đương sự trình bày mức lãi suất các bên thỏa thuận là 3%/tháng nhưng chỉ yêu cầu bà B trả lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng nhưng bà B vắng mặt không có ý kiến về mức lãi suất này. Hội đồng xét xử nhận thấy: Lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự thì các bên thỏa thuận về lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm. Do đó mức lãi suất anh T1 yêu cầu tính 1,66%/tháng tương đương 19.92%/năm là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về thời điểm tính tiền lãi vay, anh T1 yêu cầu tính kể từ ngày vay 10/8/2021, nhận thấy: Bà B vắng mặt không có ý kiến và không có tài liệu thể hiện việc bà B có trả tiền lãi vay cho anh T1. Do đó yêu cầu của T1 về việc tính lãi vay kể từ ngày 10/8/2021 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy tiền lãi tính kể từ ngày 10/8/2021 đến 10/8/2024 là 36 tháng, mức lãi suất 1,66% (1.000.000.000 đồng x 1,66%/tháng) là 16.600.000 đồng/tháng x 36 tháng là 597.600.000 đồng.
Cho nên buộc bà B trả cho anh T1 tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi 597.600.000 đồng, tổng cộng là 1.597.600.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.
[5] Về nội dung trong “Văn bản thỏa thuận” ghi nhận bà B là người đại diện của Công Ty TNHH A thế chấp cho anh T1 các tài sản đang hiện hữu của các Trung Tâm Anh Ngữ L do bà B làm đại diện (có kèm theo Giấy kê biên tài sản của các Trung Tâm Anh Ngữ L). Nhận thấy, anh T1 trình bày nội dung trong “Văn bản thỏa thuận” là đúng nhưng bà B không có bàn giao tài sản thế chấp cho anh T1. Và các bên vắng mặt không có ý kiến về vấn đề này. Do đó ngoài lời trình bày của anh T1, không có tài liệu nào khác và bà B vắng mặt nên chưa có căn cứ để xem xét. Nếu các bên đương sự có tranh chấp về tài sản theo “Văn bản thỏa thuận” trên thì khởi kiện và được giải quyết bằng vụ án khác.
[6] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, được nhận lại 24.735.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận của số tiền 1.597.600.000 đồng mức án phí được tính {Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, mức thu 36.000.000 đồng + 3% (của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng là 797.600.000 đồng) là 23.928.000 đồng} là 59.928.000 đồng.
[7] Với phân tích của Hội đồng xét xử như trên, ý kiến của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, 244, Điều 273; khoản 1 Điều 143, 147 và Điều 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470, khoản 2 Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Trần Minh T1.
- Buộc bà Nguyễn Thị B trả cho anh Đoàn Trần Minh T1 số tiền 1.597.600.000 (Một tỷ năm trăm chín mươi bảy triệu sáu trăm nghìn) đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị B phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 59.928.000 (Năm mươi chín triệu chín trăm hai mươi tám nghìn) đồng. Anh Đoàn Trần Minh T1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.735.000 (Hai mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 05441 ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Yến |
Bản án số 225/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 225/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHấp nhận yêu cầu của NĐ
