|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 225/2024/HS-ST Ngày 13-9-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
Ông Lương Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 230/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phan Văn H (tên gọi khác: Q), sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Dương; địa chỉ thường trú: Tổ B, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; số CCCD: [...]; con ông Phan Văn A, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1968; tiền án: Ngày 06/7/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 02 tháng 19 ngày tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp án phí hình sự và dân sự nhưng chưa chấp hành phần bồi thường dân sự; tiền sự: Không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 29/12/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hoàng P (tên gọi khác: T1), sinh năm 1991 tại tỉnh Bình Dương; địa chỉ thường trú: Tổ G, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lơ xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; số CCCD: [...]; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964 và bà Võ Ngọc Y, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/01/2019, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 24/01/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2020, đã chấp hành xong án phí ngày 15/3/2019; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 29/12/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Thành N1, sinh năm 2000 tại tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ tạm trú: Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; số CCCD: [...]; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1978; có vợ tên Nguyễn Thị Kim N2, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 29/12/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Trần Quang Đ (tên gọi khác: Cháo L1), sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Dương; địa chỉ thường trú: Số D, tổ G, khu phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lơ xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; số CCCD: [...]; con ông Trần Văn H1, sinh năm 1962 và bà Trần Thị Kim T3, sinh năm 1963; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/01/2019, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 24/01/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2020, đã chấp hành xong án phí ngày 27/5/2019; bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 29/12/2023; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Phi H2, sinh năm 2000; thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt;
- Ông Đỗ Văn S, sinh năm 1998; thường trú: Khu phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt;
- Bà Trần Tuyết M, sinh năm 1983; thường trú: Khu phố I, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn H, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Hoàng P và Trần Quang Đ là bạn bè với nhau, đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (ma túy loại Methamphetamine).
Sáng ngày 28/12/2023, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Hoàng P và Trần Quang Đ đến nhà của Phan Văn H tại ấp P, xã P, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương chơi. Tại đây, Phan Văn H rủ Nguyễn Thành N1, Nguyễn Hoàng P và Trần Quang Đ cùng nhau mua ma túy về sử dụng thì tất cả đồng ý. Nguyễn Hoàng P chuyển số tiền 300.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Phan Văn H, rồi Phan Văn H chuyển số tiền 600.000 đồng (gồm 300.000 đồng của P và 300.000 đồng của H) vào tài khoản ngân hàng của bà Đặng Thanh T4 (sinh năm 1982, nơi thường trú: Ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương) là người làm dịch vụ đổi tiền để nhờ bà T4 đổi tiền mặt. Lúc này, H nói N1 đến gặp bà T4 lấy số tiền 600.000 đồng để đi mua ma túy đá, còn Đ sử dụng điện thoại di động của mình gọi cho người bán ma túy tên H3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) trao đổi việc mua ma túy thì H3 hẹn giao ma túy tại khu vực thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau đó, N1 lấy xe môtô nhãn hiệu Sirius biển số 61B2 – 189.68 của Đ điều khiển đi đến điểm hẹn gặp H3 mua được 01 đoạn ống hút hàn kín chứa ma túy đá với giá 600.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, N1 đi mua ma túy về đến nhà của H, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình ra để trên bàn ở phòng khách, rồi lấy đoạn ống nhựa chứa ma túy đá mà N1 vừa mua được cắt ra, đổ một phần ma túy vào bộ dụng cụ rồi đốt cho P, N1 và Đ sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy trong bộ dụng cụ, H, P, N1, Đ ngồi tại nhà của H chơi game trên điện thoại.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Phi H2 và Đỗ Văn S là bạn của H đến xin H sử dụng ma túy thì H đồng ý. H lấy số ma túy còn lại trong đoạn ống hút đổ vào bộ dụng cụ cho H2 và S sử dụng hết. Lúc này, P, N1 và Đ đang ngồi chơi game nhìn thấy H lấy ma túy cho H2 và S sử dụng thì đồng ý, không nói gì. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, H, Đ, N1, P, H2, S đang có mặt tại nhà H thì lực lượng Công an xã P đến kiểm tra hành chính thì cả nhóm khai vừa tổ chức sử dụng ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 (hai) đoạn ống thủy tinh (dạng mỏ vịt); 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Sirius biển số 61B2 – 189.68; 01 (một) điện thoại di động Iphone 7.
Đối với xe môtô hiệu Sirius biển số biển số 61B2 – 189.68, xe do bà Trần Tuyết M là chị ruột của Trần Quang Đ đứng tên đăng ký. Ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B xử lý vật chứng giao trả xe môtô biển số 61B2 – 189.68 cho bà Trần Tuyết M.
Quá trình điều tra, Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của H, P, N1 và Đ phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối với số điện thoại mà Đ sử dụng gọi cho H3 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy, Đ khai: Sau khi gọi điện thoại cho H3 thì Đ đã tháo sim vứt bỏ và do sim rác mới mua sử dụng nên Đ không nhớ số.
Ngày 25/7/2024, Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Phi H2 và Đỗ Văn S mỗi người số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 235/CT-VKSBC ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phan Văn H. Xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 08 năm đến 09 năm tù
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng P và Trần Quang Đ.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Trần Quang Đ từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thành N1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N1 07 năm đến 08 năm tù.
- Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 02 đoạn ống thủy tinh dạng mỏ vịt (nỏ); tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 (máy trầy xước, không kiểm tra được số Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
Các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, nội dung bản Cáo trạng số 235/CT-VKSBC ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên toà, các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, tại nhà của Phan Văn H thuộc ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Phan Văn H có hành vi rủ Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ cùng nhau mua ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine) để sử dụng. Phan Văn H và Nguyễn Hoàng P góp mỗi người số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), Trần Quang Đ liên hệ với đối tượng bán ma túy tên H3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy, còn Nguyễn Thành N1 lấy xe môtô của Trần Quang Đ điều khiển đến gặp H3 để lấy ma túy đá đem về nhà của Phan Văn H. Tại đây, Phan Văn H lấy một phần ma túy đá đổ vào bộ dụng cụ cho Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ cùng sử dụng hết. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Phi H2 và Đỗ Văn S đến xin ma túy để sử dụng, thì Phan Văn H lấy số ma túy còn lại đổ vào bộ dụng cụ để cho H2 và S sử dụng hết. Lúc này, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ thấy Phan Văn H lấy ma túy cho H2 và S sử dụng thì cùng đồng ý cho H2 và S sử dụng ma túy.
Với hành vi hùn tiền mua ma túy cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy và cho Nguyễn Phi H2 và Đỗ Văn S sử dụng ma túy của các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bản Cáo trạng số 235/CT-VKSBC ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà các bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Việc mua, tàng trữ, sử dụng trái phép, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, cướp giật, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS qua con đường tiêm chích ma túy. Loại ma túy mà các bị cáo tổ chức sử dụng là Methamphetamine, đây là loại độc dược gây nghiện, có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Hiện nay, tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước không ngừng tuyên truyền giáo dục và vận động toàn xã hội ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy thì vẫn còn những người vì mục đích tư lợi đã lén lút họat động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội.
Về tình tiết định khung hình phạt: Với hành vi hùn tiền mua ma túy cùng nhau tổ chức sử dụng ma túy và cho Nguyễn Phi H2 và Đỗ Văn S cùng sử dụng của các bị cáo đã vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khung hình phạt nên bị xét xử ở khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Riêng bị cáo Phan Văn H: Ngày 06/7/2021, bị cáo Phan Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2021/HS-ST, đã chấp hành xong hình phạt tù, đã nộp án phí hình sự và dân sự nhưng chưa chấp hành bồi thường dân sự. Bị cáo Phan Văn H phạm tội mới khi chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 24/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương thì bị cáo Nguyễn Hoàng P có ông nội là người có công cách mạng, bị cáo Trần Quang Đ có bà ngoại là người có công cách mạng nên bị cáo P và Đ còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo P và bị cáo Đ đều từng bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) xử phạt về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2019. Nhận thấy các bị cáo P và Đ sau khi chấp xong hình phạt, không cố gắng tu dưỡng đạo đức bản thân mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đối với nhân thân của các bị cáo P và Đ.
Xét tính chất và mức độ phạm tội: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Các bị cáo cùng bàn bạc, đóng góp tiền, liên hệ và đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Bị cáo H là người đầu tiên rủ rê các bị cáo còn lại; đóng góp tiền mua ma túy; chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy; sử dụng nhà làm nơi sử dụng ma túy và trực tiếp đồng ý cho Nguyễn Phi H2 và Đỗ Văn S sử dụng ma túy. Bị cáo P là người góp tiền mua ma túy. Bị cáo Đ sử dụng điện thoại liên hệ việc mua ma túy và cho bị cáo N1 sử dụng xe máy đi lấy ma túy về sử dụng. Bị cáo N1 trực tiếp đi mua ma túy về sử dụng. Các bị cáo P, N1 và Đ biết cùng đồng ý việc cho Nguyễn Phi H2 và Đỗ Văn S cùng sử dụng ma túy.
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
[4] Về biện pháp tư pháp:
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7: Căn cứ theo lời khai của các bị cáo thì điện thoại này của bị cáo H cho bị cáo Đ mượn sử dụng. Bị cáo Đ sử dụng điện thoại này liên hệ với đối tượng tên H3 để mua ma túy. Do đó, đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu nộp ngân sách Nhà nước
Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 02 (hai) đoạn ống thủy tinh (dạng mỏ vịt): Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu, tiêu hủy.
Đối với xe môtô hiệu Sirius biển số biển số 61B2 – 189.68: Xe do bà Trần Tuyết M là chị ruột của Trần Quang Đ đứng tên đăng ký. Bà M cho bị cáo Đ mượn sử dụng đi làm và không biết bị cáo sử dụng xe này đi mua ma túy. Ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B xử lý vật chứng giao trả xe môtô biển số 61B2 – 189.68 cho bà Trần Tuyết M. Bà M nhận lại xe và không có yêu cầu gì trong vụ án này.
[5] Đối với đối tượng tên H3 (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho các bị cáo thì hiện Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.
[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Phi H2 và Đỗ Văn S: Ngày 25/7/2024, Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Phi H2 và Đỗ Văn S mỗi người số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
2.1 Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phan Văn H.
Xử phạt bị cáo Phan Văn H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
2.2 Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng P và Trần Quang Đ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Quang Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
2.3 Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thành N1.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 02 (hai) đoạn ống thủy tinh dạng mỏ vịt (nỏ);
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 (máy trầy xước, không kiểm tra được số Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N1 và Trần Quang Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án./.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 225/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 225/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Phan Văn H, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Thành N và Trần Quang Đ phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
