Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 225/2024/HS-ST

Ngày 29-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Hạnh và bà Nguyễn Thị Hoàng Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn M - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xét xử số 3 Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 200/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với:

- Họ và tên: Phạm Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 30 tháng 7 năm 1989; Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Phạm Văn Đ1, sinh năm 1966; Con bà: Trần Thị H, sinh năm 1963; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, (có mặt).

- Bị hại: Anh Đào Duy N, sinh năm 1973, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Xóm Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua mạng xã hội Facebook, Phạm Văn Đ biết được số điện thoại 0386.069.xxx của anh Đào Duy N sinh năm 1973, Hộ khẩu thường trú: Xóm Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nên ngày 23/3/2024 Đ đã sử dụng tài khoản zalo có tên “Hạnh phúc mỉm cười” đăng ký bằng số điện thoại sim rác, kết bạn và nhắn tin với anh N mục đích hẹn gặp để quan hệ tình dục và cưỡng đoạt tài sản. Đ tự giới thiệu tên là H1, là phụ nữ đang có chồng nhưng sắp ly hôn, đang thiếu thốn tình cảm và dùng ảnh chụp bộ phận sinh dục và ngực của người phụ nữ được tải về từ trên mạng Internet gửi cho anh N với mục đích để anh N tin và có tình cảm với Đ. Sau đó, Đ yêu cầu anh N chụp ảnh, quay video khỏa thân gửi cho Đ thì anh N cũng đồng ý và đã chụp ảnh, quay video lúc anh N đang tắm gửi cho Đ. Quá trình nói chuyện, Đ hẹn gặp anh N vào chiều ngày 28/3/2024 tại khách sạn H2 thuộc tổ F, phường P, thành phố T, anh N nghĩ Đ là phụ nữ nên đã đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 28/3/2024, anh N đến và đặt phòng 517 ở tầng 05 của khách sạn H2. Khoảng 15 phút sau, khi đến phòng 517 gặp anh N thì Đ tự giới thiệu tên Đ2 là chồng của H1, người phụ nữ đã nhắn tin với anh N qua Zalo. Đ yêu cầu anh N đi vào phòng, khóa chốt cửa phòng và nói cho anh N biết Đ có 02 thằng em đang ở dưới tầng để dọa anh N sợ. Sau đó, Đ đưa ra 03 điều kiện cho anh N, một là phải xin lỗi Đ và con gái của Đ, hai là cho Đ tiền để mua sữa cho con, ba là tẩm quất cho nhau, nếu anh N không đồng ý thì Đ sẽ gửi ảnh và video anh N khỏa thân cho vợ và các con anh N biết. Do bị đe dọa, uy hiếp nên anh N đã miễn cưỡng đồng ý. Sau khi anh N xin lỗi Đ và con gái Đ, Đ nằm xuống giường để cho anh N tẩm quất. Được khoảng 02 đến 03 phút thì Đ bảo đổi ngược lại, anh N nằm sấp xuống giường còn Đ ngồi dậy tẩm quất cho anh N. Khoảng 02 đến 03 phút sau thì Đ bảo anh N nằm ngửa ra, Đ nằm đè lên anh N và nói cho anh N biết là Đ thích đàn ông, đồng thời Đ yêu cầu anh N nằm im để cho Đ thỏa mãn một lần. Thấy Đ nói vậy thì anh N miễn cưỡng đồng ý. Đông cởi quần áo của anh N ra rồi hôn vào ngực, ngậm mút dương vật của anh N. Được một lúc thì Đ bảo anh N hôn dương vật của Đ nhưng anh N không đồng ý, bảo vào nhà vệ sinh tắm. Khi Đ và anh N vào nhà vệ sinh thì Đ yêu cầu anh N cho Đ quan hệ tình dục bằng cách cho dương vật của Đ vào hậu môn của anh N, anh N miễn cưỡng đồng ý. Anh N cúi người xuống còn Đ đứng phía sau và cho dương vật của Đ vào hậu môn của anh N nhưng vừa cho vào thì anh N kêu đau nên đã quay lại không cho Đ quan hệ tình dục tiếp. Sau đó, Đ và anh N đi ra giường rồi Đ tiếp tục ngậm, mút dương vật của anh N. Lúc này, Đ nằm đè lên nguời anh N rồi dùng dương vật của Đ cọ sát qua lại vào dương vật của anh N khoảng 02 phút thì Đ xuất tinh lên bụng anh N, sau đó Đ và anh N đi tắm rồi mặc quần áo đi về. Do trước đó Đ đã yêu cầu anh N đưa cho Đ tiền nên khi ra đến quầy lễ tân, anh N lấy 300.000 đồng tiền thừa đã đặt cọc tiền phòng trước đó và đưa cho Đ.

Đến ngày 30/3/2024, Đ dùng tài khoản Zalo “Thái Nguyên Q" nhắn tin cho anh N đòi gặp nhưng anh N không đồng ý. Ngày 31/3/2024, Đ tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là tiền của anh N và quan hệ tình dục đồng tính với anh N nên Đ đã gửi ảnh và video khỏa thân của anh N cho anh N xem. Đồng thời Đ yêu cầu anh N đưa cho Đ 1.000.000 đồng và gặp Đ để quan hệ tình dục, nếu không Đ

sẽ gửi toàn bộ ảnh, video khỏa thân của anh N cho gia đình anh N. Qua mạng xã hội Facebook, Đ tìm được và gửi cho anh N số điện thoại của 02 nguời con trai của anh N để đe dọa, uy hiếp. Sau nhiều lần giục anh N gặp mình nhưng không được, đến sáng ngày 10/4/2024 do bị Đ đe dọa nên anh N đã đồng ý gặp Đ. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10/4/2024, anh N đến đặt phòng 513 tầng 5 khách sạn H2 để gặp Đ và nói chuyện về việc đưa tiền và quan hệ tình dục đồng giới. Khi Đ và anh N đang nói chuyện thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T kiểm tra phát hiện, lập biên bản sự việc.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn Đ khai nhận: Do Đông thuộc giới tính thứ ba nên đã kết bạn qua ứng dụng Zalo và giả là phụ nữ để anh N gặp Đ. Sau đó, để gặp và quan hệ được với anh N, Đ đã bảo anh N chụp ảnh dương vật và quay cảnh lúc tắm gửi cho Đ. Khi gặp anh N, Đ đe dọa sẽ gửi ảnh, video khỏa thân của anh N cho vợ và các con của anh N biết. Do bị uy hiếp nên anh N đã miễn cưỡng đưa cho Đ 300.000 đồng và cho Đ quan hệ tình dục vào ngày 28/3/2024. Đối với số tiền 300.000 đồng chiếm đoạt được của anh N, Đ đã tiêu xài cá nhân hết.

Cáo trạng số 204/CT-VKSVN ngày 26/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự và tội “Cưỡng dâm” quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cưỡng dâm”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật Hình sự xử phạt: Phạm Văn Đ từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Phạm Văn Đ từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Cưỡng dâm”.

- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 33 tháng tù đến 39 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Prime, màu vàng, bên trong lắp sim số thuê bao 0563.066.888, đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Văn Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 300.000 đồng, không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Cho bị cáo gửi lời xin lỗi đến anh N và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội.

Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo; Biên bản xác định hiện trường; Lời khai của bị hại và các tài liệu khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Trong các ngày 28/3/2024 và ngày 10/4/2024, Phạm Văn Đ đã có hành vi cưỡng dâm và cưỡng đoạt tài sản của anh Đào Duy N, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28/3/2024, tại phòng 517 khách sạn H2 thuộc tổ F, phường P, thành phố T, Phạm Văn Đ đã đe dọa để ép buộc anh N miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với Đ, đồng thời chiếm đoạt số tiền 300.000 đồng của anh N.

Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10/4/2024, tại phòng 513 khách sạn H2 thuộc tổ F, phường P, thành phố T Phạm Văn Đ tiếp tục sử dụng thủ đoạn như trên nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 1.000.000 đồng của anh N thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, lập biên bản sự việc.

Hành vi của bị cáo Phạm Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 và tội “Cưỡng dâm” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản.

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Điều 143. Tội cưỡng dâm

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.

[3]. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm danh dự, nhân phẩm, sức khỏe và quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mình đã gây ra.

[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn Đ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra giải quyết vụ án xác định bị cáo không có nghề nghiệp, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Prime, màu vàng, bên trong lắp sim số thuê bao 0563.066.888, đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Văn Đ. Đây là vật chứng bị cáo dùng làm phương tiện để liên lạc, trao đổi, thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra anh Đào Duy N yêu cầu bị cáo Phạm Văn Đ bồi thường số tiền 300.000 đồng. Ngày 16/8/2024 anh N có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo Phạm Văn Đ phải bồi thường số tiền trên. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Trong vụ án này, đối với hành vi Phạm Văn Đ tải ảnh khỏa thân của phụ nữ trên mạng Internet, sau đó gửi cho anh Đào Duy N. Tuy nhiên, Đ và anh N đã

xóa hình ảnh nên không có căn cứ xử lý đối với Đ về hành vi “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”.

[10]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cưỡng dâm".

Căn cứ khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 143; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với tội “Cưỡng đoạt tài sản”); Điều 47, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật hình sự; Điều 30; 106, 136, 299, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hình phạt chính:
    • - Xử phạt: Phạm Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Cưỡng dâm”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/4/2024.

    Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Văn Đ trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  4. Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng, số IMEI 1: 353415082320170, số IMEI 2: 353415082320170, bên trong lắp sim số thuê bao 0563.066.888, đã qua sử dụng được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu "A1".

    (Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, có đặc điểm và tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục THADS thành phố T số 251 ngày 28/8/2024).

  5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - CQĐT Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; Bị hại
  • - UBND phường Tích Lương;
  • - Lưu: HS, VT, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 225/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về cưỡng đoạt tài sản và cưỡng dâm (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 225/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản và Cưỡng dâm (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn Đông phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cưỡng dâm”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger