Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 225/2024/HS-ST

Ngày: 17/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên.

Bà Lò Thị Cải.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 207/2024/TLST- HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 228/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với Bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn T; sinh năm: 1982, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Lào; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn B; sinh năm 1962; Con bà: Lò Thị P; sinh năm 1965; Vợ thứ nhất là chị Lường Thị M; sinh năm 1982, đã ly hôn năm 2015, vợ thứ hai là chị Tòng Thị H; sinh năm 1982. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 17/9/2020 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 206/2020/HSST ngày 17/9/2020. Đến ngày 13/11/2021 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị: Tòng Thị H; sinh năm 1982; địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ sáng ngày 26/5/2024, Lò Văn T đi xe mô tô hai bánh BKS: 27B1-358.36 từ nhà vợ của T là chị Tòng Thị H, sinh năm 1982, trú tại bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi Bị cáo có đem theo số tiền 100.000 đồng để ở túi quần đùi bên trái. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Bị cáo đến bản N thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi (Bị cáo không biết tên, địa chỉ) đang đứng ở đường. Qua trao đổi nói chuyện, Bị cáo hỏi người đàn ông: “Có Heroine bán không? Bán cho tôi 100.000 đồng”. Người đàn ông đó trả lời: “Có đưa tiền đây tao đi mua cho”. Bị cáo đồng ý và đưa cho người đàn ông đó số tiền 100.000 đồng. Khoảng 10 phút sau thì người đàn ông quay lại và đưa cho Bị cáo 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, miệng gói được hơ lửa hàn kín. Bị cáo cầm số ma túy vừa mua được đi bộ vào khu vực bìa rừng thuộc bản N, xã H, huyện Đ. Sau đó, Bị cáo lấy gói Heroine bẻ ra một ít để sử dụng, số còn lại Bị cáo gói vào mảnh nilon cũ hơ lửa hàn kín lại, cho vào túi làm bằng bao tải rồi Bị cáo để chiếc túi trên vào giá để hàng phía trước của xe máy của Bị cáo, sau đó đi vào nhà người quen ở bản N, xã H để ăn cơm. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong Bị cáo trở về nhà vợ, khi đi đến khu vực đầu bản Hát Tao, xã N, huyện Đ thì T bị tổ công tác Đồn biên phòng M1 và Công an xã N dừng xe lại để kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện thu giữ toàn bộ số Heroine Bị cáo cất giấu trong chiếc túi được làm từ bao tải trước đó. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng đối với Bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/5/2024 Đ biên phòng Mường N ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và giao toàn bộ hồ sơ, vật chứng vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để tiếp tục điều tra làm rõ theo thẩm quyền.

Ngày 27/5/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Lò Văn T như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,30 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 885/KL- KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Lò Văn T giám định là chất ma túy: loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,23 gam.

Tại bản cáo trạng số: 152/CT-VKSHĐB ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo: Từ 01 năm 04 tháng 01 năm 08 tháng đến về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ tại điểm a,c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,23 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định. 01 mảnh nilon màu trắng và 01 túi làm từ bao tải màu vàng xanh là vật không còn giá trị sử dụng.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát BKS: 27B1-358.36; nhãn hiệu YAMAHA; số loại: SIRIUS; màu sơn: Đen Vàng; Dung tích xi lanh 113m³; Số máy: E3T6E017885; số khung: RLCUE1710FY012844 (kèm 01 chìa khoá).

Quá trình điều tra xác minh chủ sở hữu hợp pháp là của chị Tòng Thị H; sinh năm 1982; địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (mua lại của anh Giàng A S; sinh năm 1972; địa chỉ: bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên từ năm 2021 với giá 3.000.000 đồng, khi mua bán anh S và chị H không có giấy tờ mua bán, chị H cũng chưa làm thủ tục sang tên). Trong hồ sơ vụ án thể hiện năm 2018 Bị cáo và chị H đăng ký kết hôn, không có con chung với chị H, tuy kết hôn nhưng vợ chồng mỗi người sống 1 nơi, Bị cáo là người nghiện ma tuý, năm 2020 Bị cáo đi chấp hành hình phạt tù ở nhà chị H đi làm thuê và mua chiếc xe trên trước khi Bị cáo đi tù về. Việc Bị cáo dùng chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội, chị H không biết. Đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu là chị Tòng Thị H.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 26/5/2024 tại khu vực bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,30 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c)....Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại tỉnh Điện Biên, đi học đến lớp 5/12 thì nghỉ học. Năm 2000 Bị cáo kết hôn với chị Lường Thị M; sinh năm 1982, và có 01 người con chung sinh năm 2002, đến năm 2015 Bị cáo ly hôn với chị Lường Thị M. Đến năm 2018 Bị cáo kết hôn với chị Tòng Thị H; sinh năm 1982; địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, Bị cáo không có con chung với chị H. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2015 cho đến ngày bị bắt.

Ngày 17/9/2020 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 206/2020/HSST ngày 17/9/2020, đến ngày 13/11/2021 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích với bản án trên nhưng Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của Viện kiểm sát đề nghị, HĐXX thấy có đủ cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên đối với mức hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị từ 01 năm 04 tháng tù đến 01 năm 08 tháng tù đối với Bị cáo, HĐXX thấy rằng có thể xử mức hình phạt cao hơn mức đề nghị, mới mang tính chất răn đe, giáo dục Bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xong xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Vật chứng vụ án gồm:

Đối với 0,23 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 túi làm từ bao tải màu vàng xanh là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát BKS: 27B1-358.36; nhãn hiệu YAMAHA; số loại: SIRIUS; màu sơn: Đen Vàng; Dung tích xi lanh 113m³; số máy: E3T6E017885; số khung: RLCUE1710FY012844 (kèm theo chìa khoá), tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong.

HĐXX thấy rằng tuy Bị cáo và chị H có đăng ký kết hôn vào năm 2018, sau khi kết hôn chị H biết Bị cáo là người nghiện ma tuý vì vậy vợ chồng mỗi người sống một nơi, thỉnh thoảng Bị cáo lên nhà vợ chơi xong lại về. Năm 2020 Bị cáo bị bắt và bị đi chấp hành hình phạt tù ở nhà chị H đi làm thuê và mua chiếc xe trên của anh Giàng A S; sinh năm 1972; địa chỉ: bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với giá 3.000.000 đồng trước thời điểm Bị cáo đi tù về. Quá trình điều tra xác minh cũng đã đầy đủ nội dung khách quan. Gia đình chị H thuộc hộ nghèo tại địa phương và chỉ có một chiếc xe mô tô trên là duy nhất làm phương tiện đi lại. Việc Bị cáo lên nhà chị H mượn chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội, chị H không biết. Vì vậy HĐXX thấy rằng cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu chị Tòng Thị H là cần thiết.

[6] Các vấn đề khác:

Trong quá trình điều tra Bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ ở đâu). Do Bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

[7.1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[7.2] Về sự vắng mặt của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Tòng Thị H. Xét thấy tại phiên toà ngày hôm nay Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Bị cáo: 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (26/5/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: 0,23 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 túi làm từ bao tải màu vàng xanh, phần túi có kích thước 47 x 42 cm, phần quai túi có chiều dài 84 cm, đã qua sử dụng.

* Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị: Tòng Thị H; sinh năm 1982; địa chỉ: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA; số loại: SIRIUS; màu sơn: Đen Vàng; Dung tích xi lanh: 113cm³ mang biển kiểm soát BKS: 27B1-358.36; số khung: RLCUE1710FY012844; số máy: E3T6E017885, xe cũ đã qua sử dụng (kèm theo chìa khoá).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/9/2024).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người CQLVNLQ;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND H. Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS HĐB;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV C.an HĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 225/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 225/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 02 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger