|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/4/2024
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuân Phương.
2. Bà Mai Xuân Hoa.
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi Nga - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Kim N, sinh năm: 1968; Đăng ký thường trú: Số A phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội và nơi cư trú hiện nay: Ngôi nhà B thuộc Trung tâm P T, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1959; Đăng ký thường trú: Số A phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Đặng Thị Kim N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn Q tự tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 15/6/2007 tại UBND phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà chồng ở số A phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Từ năm 2017, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính cách khác nhau dẫn đến không có tiếng nói chung, ông Q làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần, vợ chồng phải bán nhà và đi thuê nhà để ở nhiều nơi. Năm 2022, vợ chồng thuê nhà ở tại P nhà H Đ, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Bà đã nhiều lần trả nợ cho ông Quảng mong ông Q tu chí làm ăn nhưng vẫn không thay đổi, hai bên thường xuyên xảy ra cãi nhau, thậm chí ông Q bị đòi nợ nhiều thì lại xúc phạm, xỉ nhục, đe dọa thậm chí còn dí dao vào cổ bắt bà phải tìm mọi cách trả nợ dù phải đi vay nặng lãi. Tháng 6 năm 2023, bà đã nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân nhân quận H, Thành phố Hà Nội nhưng do ông Q không còn sinh sống và nhà thuê tại P402 nhà H Đ, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội nữa nên bà đã rút đơn xin ly hôn và Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã đình chỉ vụ án. Do vậy, từ ngày 19 tháng 4 năm 2023 bà và con của bà phải chuyển đến nơi ở và xin nhờ sự trợ giúp của Ngôi Nhà B thuộc Trung tâm P, số B T, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội. Ông Q không còn nơi ở nào khác cứ nay ở nhờ nhà người này, ngày mai lại xin ở nhờ nhà người khác để trốn nợ. Từ tháng 4 năm 2023 vợ chồng sống ly thân nhưng ông Q vẫn thường xuyên nhắn tin yêu cầu bà đi vay tiền để trả nợ cho ông. Đến nay, bà xác định mâu thuẫn đã kéo dài trầm trọng không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, bà xin được ly hôn với ông Q.
-Về con chung: Bà xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Quang T, sinh ngày 11/08/2006. Hiện nay con chung đang ở cùng với bà, sức khỏe bình thường. Ly hôn bà có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.
-Về tài sản, nhà ở chung: Bà xác nhận vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về công nợ chung: Bà xác nhận vợ chồng không nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn Q. Nhưng ông Q đều không đến tòa án làm việc và không có ý kiến gì với việc bà N xin ly hôn. Đại diện Tòa án đã phối hợp cùng chính quyền địa phương để tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Q nhưng ông Q không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú và không xác định được nơi cư trú của ông Q, do vậy các văn bản tố tụng được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy không ghi được ý kiến của bị đơn.
Tại phiên tòa bà N vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn ông Nguyễn Văn Q vì mâu thuẫn quá căng thẳng kéo dài, cuộc sống không có hạnh phúc. Bản thân hai vợ chồng cũng đã sống ly thân, ông Q nợ nần nhiều người dẫn đến thường xuyên lẩn trốn không quan tâm đến vợ và con, mỗi người có một cuộc sống riêng và sinh sống mỗi người một nơi; nay bà đề nghị Tòa án sớm giải quyết ly hôn để bà ổn định cuộc sống riêng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đã tuân thủ đúng theo trình tự pháp luật quy định. Đối với nguyên đơn chấp hành, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Đối với bị đơn quá trình giải quyết vụ án đã nhiều lần triệu tập nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai và không tiến hành hoà giải được, tại phiên tòa cũng vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị Kim N đối với ông Nguyễn Văn Q. Về con chung: Ly hôn giao con chung Nguyễn Quang T, sinh ngày 11/8/2006 cho bà Đặng Thị Kim N được trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Q đến khi có sự thay đổi khác; Về tài sản chung (động sản và bất động sản) và nợ chung: Bà N xác nhận không có, không yêu cầu tòa án giải quyết, trong trường hợp sau này có tranh chấp thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào pháp luật để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Đặng Thị Kim N có đơn xin ly hôn đối với ông Nguyễn Văn Q; đăng ký thường trú: Số A hẻm A phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn Q, nhưng ông Q đều không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến gì đối với việc bà N xin ly hôn. Đại diện Tòa án đã phối hợp cùng chính quyền địa phương để tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Q nhưng ông Q không có mặt tại nơi đăng ký thường trú, do vậy các văn bản tố tụng được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Như vậy ông Q đã từ bỏ quyền của mình, do ông Q không thực hiện nghĩa vụ của đương sự, nên phải chịu hậu quả do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vụ án. Tại phiên toà sơ thẩm ngày 28/3/2024 bị đơn là ông Nguyễn Văn Q vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định hoãn phiên toà và ấn định phiên toà tiếp theo mở vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 16/4/2024. Quyết định hoãn phiên toà đã được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà ngày 16/4/2024 bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, Thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận kết hôn số 100; quyển 01/2007; ngày 15/6/2007. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
- [3] Về tình cảm vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn: Theo tài liệu được địa phương cung cấp quá trình ông Q, bà N chung sống tại địa phương đã xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do ông Q làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần, kinh tế khó khăn, tính cách của hai người không hợp nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng phải bán nhà để trả nợ và sống ly thân mỗi người một nơi.
- [4] Xét mâu thuẫn của bà N, ông Q có thể cho thấy rằng mâu thuẫn của vợ chồng ông bà xảy ra đã căng thẳng, nguyên nhân mâu thuẫn do hai người bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, không có tiếng nói chung, ông Q làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần nhiều người, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, năm 2023 bà N đã làm đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai nhưng sau đó lại rút đơn về nhưng cuộc sống vợ chồng không cải thiện được nên bà N lại tiếp tục làm đơn xin ly hôn ông Q tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng là nơi ông Q đăng ký thường trú. Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã nhiều lần thông báo cho ông Q đến Tòa án để trình bày nguyện vọng cũng như hòa giải nhưng ông cố tình không đến làm việc, không tham gia các buổi hòa giải, điều đó thể hiện ông Q không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy có thể cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được việc bà N xin ly hôn ông Q là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của bà Đặng Thị Kim N đối với ông Nguyễn Văn Q.
- [5]. Về con chung: Bà N xác nhận ông bà có 01 con chung là Nguyễn Quang T, sinh ngày 11/8/2006. Ly hôn bà có nguyện vọng được nuôi con và không yêu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của bà N là phù hợp với pháp luật, con chung của ông bà đã gần đủ 18 tuổi và có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì xin được ở cùng với mẹ, bà N có thu nhập ổn định, mặt khác ông Q cũng không có ý kiến nguyện vọng gì về việc nuôi con, do vậy nên giao con chung cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi thành niên đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con, nhưng để đảm bảo quyền lợi cho con chung của ông bà nên cần tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con cho ông Q đến khi có sự thay đổi khác.
- [6].Về tài sản chung (động sản và bất động sản) và nợ chung: Bà N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do ông Nguyễn Văn Q không có lời khai tại tòa án nên tách phần tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết riêng bằng vụ kiện khác nếu ông Q có căn cứ và có yêu cầu. Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.
- [7].Về án phí: Bà Đặng Thị Kim N phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
- [8].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4, 5 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Toà án (ban hành kèm theo Nghị quyết).
Xử:
- [1]. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị Kim N đối với ông Nguyễn Văn Q. Bà Đặng Thị Kim N được ly hôn với với ông Nguyễn Văn Q
- [2]. Về con chung: Xác định bà N và ông Q có 01 con chung là Nguyễn Quang T, sinh ngày 11/8/2006. Ly hôn, giao con chung Nguyễn Quang T cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con cho ông Q đến khi có sự thay đổi khác.
- [3]. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản) và nợ chung: Bà N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tách phần tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết riêng bằng vụ án khác nếu ông Q có căn cứ và có yêu cầu.
- [4]. Về án phí: Bà Đặng Thị Kim N phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 003235 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- [5]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bà Đặng Thị Kim N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tiến |
Bản án số 225/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 225/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
