Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 225/2023/HS-ST

Ngày 15/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Liên Minh và bà Trần Thanh Vân.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 195/2023/TLST-HS ngày 11/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2023/QĐXXST-HS ngày 14/7/2023, đối với các bị cáo:

1. Trương Văn T, tên gọi khác: không; sinh năm 1976, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm G, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công C và bà Nguyễn Thị L; có vợ là: Hứa Thị B, đã ly hôn, có 01 con. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: 02

  • + Tại Bản án số 183/HSST ngày 30/9/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2004.
  • + Tại Quyết định số 10254 ngày 05/9/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố T quyết định đưa người nghiện ma túy vào chữa bệnh, lao động, học tập tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành phố T thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 17/12/2014.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023 đến nay, có mặt.

2. Nguyễn Thế U, tên gọi khác: không; sinh năm 1975, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm T, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu G, đã chết và bà Trần Thị H; có vợ là: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1977, có 01 con. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: 02

  • + Tại Bản án số 11/HSST ngày 13/01/1998 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • + Tại Bản án số 86/HSST ngày 02/10/2001 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 203/HSPT ngày 17/12/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm, tuyên xử Nguyễn Thế U 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/5/2004. Chấp hành xong án phí ngày 08/5/2008.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2023 đến nay, có mặt.

Người chứng kiến: Ông Phó Văn T1, sinh năm 1972, vắng mặt;

Nơi cư trú: xóm C, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h10 phút ngày 28/3/2023, tổ công tác của Công an xã S, thành phố T đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Đ của xã, phát hiện 02 người đàn ông đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người điều khiển xe mô tô khai nhận tên là Trương Văn T, người đàn ông ngồi sau khai nhận tên là Nguyễn Thế U. Uy tự giác lấy từ túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. T và U khai nhận đó mà ma túy loại H1 mua về để U và T cùng nhau sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với U, T, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của T 01 xe mô tô biển kiểm soát 20B1 – 404.84.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: số chất bột màu trắng thu giữ của Trương Văn T và Nguyễn Thế U có khối lượng 0,169 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 05/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,169 gam.

Tại cơ quan điều tra, Trương Văn T và Nguyễn Thế U khai nhận: khoảng 13 giờ 45 phút ngày 28/3/2023, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B1 – 404.84 đến nhà U ở xóm T, xã C, thành phố T rủ U đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng, U đồng ý. T chở U đến khu vực gần cổng trường Cao đẳng C1 để tìm mua ma túy. Đến nơi, T dừng xe và đưa cho U 200.000 đồng để U đi mua ma túy, còn T ngồi trên xe đợi. U cầm tiền đi bộ vào khu vực cổng trường Cao đẳng C1, tại đây U gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua xong, U cất gói Heroine vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi ra chỗ T đang đợi để cả hai cùng đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã S phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong kí hiệu A, B bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 20B1 - 404.84, số khung RLHHC1205BY655899, số máy HC12E – 345601, xe đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Vũ Thị M, địa chỉ: xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 202/CT-VKSTPTN ngày 09/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố các bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Thế U về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

Tuyên bố các bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Thế U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trương Văn T, Nguyễn Thế U mỗi bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A, B; tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 20B1 - 404.84 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo T.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng: các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra cũng như các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: hồi 14 giờ 10 phút ngày 28/3/2023, tại khu vực xóm Đ, xã S, thành phố T, Trương Văn T và Nguyễn Thế U có hành vi tàng trữ 0,169 gam ma túy loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã S phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
  3. [3] Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:

    1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

    c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

  4. [4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm hoạ cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo Trương Văn T đồng phạm với vai trò là người khởi xướng, bị cáo Nguyễn Thế U tham gia đồng phạm với vai trò là người thực hiện tội phạm.
  5. [5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy: các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo T 01 lần bị xét xử về tội “cướp tài sản” và bị áp dụng biện pháp đưa người nghiện vào chữa bệnh, lao động, học tập tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thành phố T, bị cáo U đã 02 lần bị xét xử đều về tội phạm liên quan đến ma túy, tuy nhiên các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy, các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  6. [6] Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.
  7. [7] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  8. [8] Về vật chứng của vụ án: đối với 02 bì niêm phong ký hiệu A, B bên trong chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu, tiêu huỷ.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 20B1 – 404.84 đăng ký xe mang tên Vũ Thị M, sinh năm 1990, địa chỉ tại xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T đều xác định mua mua chiếc xe trên tại cửa hàng xe máy ở khu vực huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; theo kết quả tra cứu của Công an thành phố T chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng; quá trình điều tra chị Vũ Thị M xác định không sở hữu chiếc xe trên và không quen biết bị cáo T nên cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý đối với chị M là có căn cứ; Hội đồng xét xử xét thấy cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo T.

  1. [9] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, U khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
  2. [10] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Thế U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trương Văn T, Nguyễn Thế U mỗi bị cáo 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2023.
  3. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì niêm phong ký hiệu A, B.

    Tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 20B1- 404.84, xe đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Trương Văn T.

    Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 382 ngày 24/7/2023 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 225/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 225/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger