|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2024/HS-ST.
Ngày 10 - 5 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
- Ông Trần Công Danh.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 200/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2024/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tô Văn K, sinh năm 1997 tại Đồng Nai (có mặt); Nơi cư trú: 8/25, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn H; sinh năm: 1971 và bà Lưu Thị Thanh N; sinh năm: 1976; vợ, con; chưa; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 13/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
- Bị hại: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1976 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Chỗ ở hiện nay: 3E1, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ 00 ngày 10/11/2023 K đi bộ đến nhà anh Vũ Văn C tại số A, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B, thấy 01 ô tô bán tải màu cam biển số 60C-262.31 đậu trong sân, K trèo rào lưới B40 vào bên trong khu vực để xe ô tô rồi mở cánh cửa bên phải phía sau vào bên trong xe, mở cốp phía trước lấy trộm được 60 đô la mỹ và 5.000.000đồng (năm triệu đồng) tiền mặt, rồi leo rào ra ngoài tẩu thoát. K dùng số tiền để mua ma túy sử dụng và chơi game hết, riêng 60 đô la M đem đến tiệm V”, địa chỉ khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đổi được 1.300.000đồng và sử dụng chơi game hết. Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản trộm cắp.
Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ 00 ngày 17/11/2023, K tiếp tục đi bộ đến nhà anh C ở số A, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B để trộm tài sản. K trèo qua rào B40 vào sân mở cửa bên phải phía trước xe ô tô bán tải số 60C-262.31 rồi mở cốp giữa hai ghế trước, trộm cắp được 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng) và 01 nhẫn vàng 14K nặng 3 chỉ. Sau khi lấy được tài sản, K trèo rào tẩu thoát. Số tiền trộm được K chơi game, mua ma túy sử dụng. Chiếc nhẫn K đưa đến tiệm V1” địa chỉ đường N, phường T, thành phố B bán được 5.000.000đồng (năm triệu đồng) và sử dụng chơi game hết. Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản trộm cắp.
Vụ thứ ba: Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 11/12/2023, K đi xe đạp mini có yên màu vàng, mang theo 01 dao cắt kính, 02 cục hít đến nhà anh C tại số A, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B. K để xe đạp ở ngoài rồi trèo lưới B40 vào bên trong để trộm cắp tài sản. Do xe ô tô khóa cửa nên K dùng dao cắt kính và cục hít kính cạy phá làm bể cửa kính xe ô tô từ đó phát tính hiệu báo động. Thấy vậy, K trèo rào bỏ chạy trốn thoát, không lấy được tài sản gì.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe đạp mini yên màu vàng phía trước có giỏ xe là phương tiện K sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Xe này của chị Nguyễn Thúy H1 cho Khánh mượn, chị H1 không biết việc K sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị H1.
- - 01 áo khoác thun tay dài màu xám có mũ trùm đầu, 01 quần dài màu đen là quần áo K mặc khi đi thực hiện hành vi phạm tội.
- - 01 điện thoại di động S A14 và 500.000 đồng thu trên người K. Đây là tài sản Khánh mượn của mẹ ruột là bà Lưu Thị Thanh N, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà N.
- - 01 dao cắt kính, 02 cục hít kính sau khi gây án K đã ném vào thùng rác trên đường không xác định được địa điểm nên không thu giữ được.
- - 01 USB bên trong chưa các clip liên quan đến vụ án chuyển lưu theo hồ sơ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: Kết luận số 08/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận 60 đô la mỹ có giá trị: 1.468.200 đồng (một triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm đồng). Tổng số tiền mà Tô Văn K trộm cắp là 6.468.200đồng (sáu triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: Kết luận số 08/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận nhẫn vàng 14K nặng 03 chỉ có giá trị 10.524.000đồng (mười triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng). Tổng số tiền mà Tô Văn K trộm cắp được là 90.524.000đồng (chín mươi triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: Kết luận số 651/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận 01 xe ô tô biển số 60C-262.31 bị hư hỏng kính chắn gió cửa sau bên phải có trị giá 3.000.000đồng (ba triệu đồng).
Bản cáo trạng số: 217/CT-VKSBH ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Tô Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Tô Văn K từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Tô Văn K từ 08 (tám) tháng tù đến 10 (mười) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Tô Văn K bồi thường cho bị hại anh Vũ Văn C theo quy định pháp luật.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác thun dài tay màu xám có mũ trùm đầu, 01 quần dài màu đen là quần áo K mặc khi đi thực hiện hành vi phạm tội.
Lời nói sau cùng của bị cáo Tô Văn K: Bị cáo rất hối hận về việc bị cáo đã làm, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận:
- Ngày 10/11/2023 tại số A, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B, bị cáo Tô Vũ K1 có hành vi trộm cắp 60 đô la mỹ (sáu mươi đô la mỹ) và 5.000.000đồng (năm triệu đồng) tiền mặt của bị hại anh Vũ Văn C.
- Ngày 17/11/2023 tại số A, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B, bị cáo K1 có hành vi trộm cắp 80.000.000đồng (tám mươi triệu đồng) và 01 (một) nhẫn vàng 14K nặng 3 chỉ.
- Ngày 11/12/2023 tại số A, tổ E, khu phố A, phường B, thành phố B, bị cáo K1 có hành vi trộm nhưng không thành, không lấy được tài sản gì.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: Kết luận số 08/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận 60 đô la mỹ có giá trị: 1.468.200đồng (một triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm đồng). Tổng số tiền mà bị cáo Tô Văn K trộm cắp là 6.468.200đồng (sáu triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: Kết luận số 08/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận nhẫn vàng 14K nặng 03 chỉ có giá trị 10.524.000đồng (mười triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng). Tổng số tiền mà bị cáo Tô Văn K trộm cắp được là 90.524.000đồng (chín mươi triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: Kết luận số 651/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận 01 xe ô tô biển số 60C-262.31 bị hư hỏng kính chắn gió cửa sau bên phải có trị giá 3.000.000đồng (ba triệu đồng).
Hành vi của bị cáo Tô Văn K đã phạm vào các tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sở hữu tài sản của công dân. Nên cần có một mức án nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Tô Văn K: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đầu thú quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Quá trình điều tra anh Vũ Văn C yêu cầu bị cáo Tô Văn K bồi thường số tiền 99.992.200 đồng (Chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi hai nghìn hai trăm đồng). Tại phiên tòa bị cáo Tô Văn K đồng ý bồi thường chp anh Vũ Văn C số tiền 99.992.200 đồng (Chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi hai nghìn hai trăm đồng). Nên ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác thun dài tay màu xám có mũ trùm đầu, 01 (một) quần dài màu đen là quần áo bị cáo Tô Văn K mặc khi đi thực hiện hành vi phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Tô Văn K phải chịu 4.999.610 đồng (bốn triệu chín trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm mười đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Tô Văn K phạm các tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Tô Văn K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Tô Văn K 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2023.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Tô Văn K phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bị cáo Tô Văn K bồi thường cho anh Vũ Văn C số tiền 99.992.200 đồng (chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi hai nghìn hai trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác thun dài tay màu xám có mũ trùm đầu, 01 (một) quần dài màu đen là quần áo bị cáo Tô Văn K mặc khi đi thực hiện hành vi phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Tô Văn K phải chịu 4.999.610đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
Bản án số 225/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 225/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Văn Khánh
