Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 225/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08/4/2025

“V/v Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Dương Thùy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giữ; Ông Lê Cao Trí.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa:

Bà Trương Bảo Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 801/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn V, sinh năm 1997. Địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1997. Địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/11/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Dương Văn V trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Ngọc B tự nguyện quen nhau và tiến tới kết hôn vào năm 2023, ông bà có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 157, đăng ký ngày 22/8/2023. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau vợ chồng không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm, phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Nguyên nhân bà B không trung thực trong chuyện chi tiêu sinh hoạt gia đình, tiền bạc, từ đó vợ chồng mất lòng tin với nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên ông bà quyết định sống ly thân khoảng 09 tháng nay. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, ông và bà B không thể hàn gắn tình cảm được với nhau nên ông khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà B.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác cho các đương sự nhưng bị đơn bà Nguyễn Ngọc B vắng mặt, không gửi văn bản trình bày ý kiến về vụ án cho Tòa án.

Tòa án tiến hành xác minh, được biết bà Nguyễn Ngọc B có đăng ký thường trú và hiện tại đang sinh sống tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Về mâu thuẫn gia đình giữa ông V và bà B như thế nào thì ban ấp không biết do ông bà không có nhờ ban ấp can thiệp hay hòa giải.

Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà B vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông V và bà B đều vắng mặt, riêng ông V có đơn xin xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng bị đơn là chưa chấp hành nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông V được ly hôn với bà B. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: đề nghị không xem xét. Về án phí sơ thẩm: Đề nghị buộc ông V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Dương Văn V khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về con chung đối với bị đơn bà Nguyễn Ngọc B nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn”. Bị đơn bà B có địa chỉ cư trú tại xã T, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt, riêng nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Ông V và bà B tự nguyện quen nhau, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 157, đăng ký ngày 22/8/2023 nên công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Quá trình chung sống, ông V cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn hòa hợp, nguyên nhân do bà B không trung thực trong chuyện chi tiêu sinh hoạt gia đình, tiền bạc, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn hạnh phúc, tình cảm nhạt phai nên ông yêu cầu được ly hôn với bà B.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bà B nhưng bà B vẫn vắng mặt, không gửi văn bản trình bày ý kiến về vụ án, cho thấy bà B đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của ông V.

Mặt khác, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải, phiên toà để tạo điều kiện cho ông V và bà B có cơ hội được hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng cả hai đều vắng mặt, điều này thể hiện cả ông V và bà B không còn quan tâm, yêu thương nhau, không mong muốn hàn gắn, duy trì mối quan hệ hôn nhân giữa họ.

Do đó, xét thấy, hôn nhân giữa ông V và bà B đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V, cho ông V được ly hôn với bà B là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú.

Về con chung: Ông Vũ K không có con chung, bà B không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Vũ K1 yêu cầu giải quyết, bà B không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp sau này, ông V, bà B hay ai khác có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

[3] Về án phí sơ thẩm: Ông V là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn V:

  • - Về hôn nhân: Cho nguyên đơn ông Dương Văn V được ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Ngọc B.
  • Giấy chứng nhận kết hôn số 157, đăng ký ngày 22/8/2023 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Dương Văn V và bà Nguyễn Ngọc B không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu luật pháp luật.
  • - Về con chung: Không xem xét.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  • - Về án phí sơ thẩm: Ông Dương Văn V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông V đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số: 0009193 ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú nên ông V không phải nộp thêm.
  • - Về quyền kháng cáo: Ông V, bà B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh AG;
  • - Viện kiểm sát ND H. Châu Phú;
  • - Chi cục THA DS H. Châu Phú;
  • - UBND xã Thạnh Mỹ Tây;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP; hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Dương Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 225/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 225/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông V yêu cầu ly hôn với bà B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger