|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2025/DS-PT
Ngày 18 - 6 - 2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Ông Nguyễn A Đam
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 135/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 157/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1967 (có mặt).
- Bà Phan Thị T, sinh năm 1968 (có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
- Chị Lê Cẩm T1, sinh năm 1984 (có mặt).
- Anh Thạch Thanh Đ, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N1
Địa chỉ: Số B - L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Minh T2 – Giám đốc Phòng G thuộc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam huyện N1 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1964 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T là nguyên đơn; Bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Hữu Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
· Nguyên đơn, ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T trình bày:
Ông C xác định cha mẹ là ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1927 (chết năm 2001) và bà Trần Thị D, sinh năm 1933 (chết năm 2016) có tất cả 08 người con, ông C là con út. Ông B, bà D có phần đất tại ấp B, xã T, huyện T. Sau đó, ông B, bà D có phân chia đất cho các con mỗi người một phần, trong đó có ông C.
Đến năm 2003, ông C đã đăng ký và được cấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 12.295m², thuộc các thửa số 1052 (diện tích 100m² thổ cư, 300m² vườn), thửa 1060 (diện tích 125m² vườn), thửa 669 (diện tích 11.770m² lúa) theo tờ bản đồ số 17 cấp vào ngày 22/7/2003 đứng tên ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T. Sau khi được cấp giấy chứng nhận QSD đất ông bà đã thế chấp vay vốn tại Phòng G của Ngân hàng N1 – chi nhánh huyện T, đến nay còn nợ tiền gốc là 195.000.000 đồng.
Đến năm 2004, ông C xác định có cho bà T1, ông Đ mượn phần đất khoảng 3,5 công tầm 3m, phần đất cho mượn nằm trong một phần diện tích 11.770m² thuộc thửa số thửa 669, tờ bản đồ số 17 theo giấy chứng nhận QSD đất cấp vào ngày 22/7/2003. Khi cho mượn đất không có làm giấy tờ và không có tiến hành đo đạc, chỉ ngăn ngang bờ để ông Đ, bà T1 canh tác. Trên phần đất này khi cho mượn là đất ruộng, không có tài sản, cây trồng gì và hiện nay cũng không có tài sản và cây trồng gì.
Nay ông C, bà T yêu cầu ông Đ, bà T1 trả lại cho ông bà diện tích phần đất cho mượn theo đo đạc thực tế do Công ty TNHH P1 thực hiện ngày 17/11/2022 có diện tích 4.919,5m². Hiện tại, vợ chồng ông Đ, bà T1 được cấp giấy chứng nhận QSD đất số H00932 diện tích 3.919m² thửa 227 tờ bản đồ số 16 vào ngày 30/12/2004 đứng tên Lê Cẩm T1, Thạch Thanh Đ. Theo ông bà cho rằng phần đất cho mượn thuộc thửa số thửa 669 diện tích 11.770m² tờ bản đồ số 17 của ông bà được cấp giấy chứng nhận. Đối với phần đất bà P, ông Q yêu cầu điều chỉnh giấy chứng nhận theo thực tế, không liên quan gì đến đất của ông, bà nên không có ý kiến gì.
- Bị đơn, ông Thạch Thanh Đ, bà Lê Cẩm T1 trình bày:
Vào ngày 28/3/2002 vợ chồng bà có nhận thừa kế (thực tế chuyển nhượng) của ông Nguyễn Văn N (ông N là cậu ruột của bà T1 và là anh ruột của ông C) và bà Trần Thị D (bà D là bà ngoại của bà T1 và là mẹ của ông C) phần đất diện tích 3.919m² tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện T. Phần đất này thực tế vợ chồng bà mua vào năm 2002 và sử dụng ổn định cho đến nay (có xác nhận của những người trong thân tộc) và đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số H00932 diện tích 3.919m² thửa 227 tờ bản đồ số 16 vào ngày 30/12/2004 đứng tên Lê Cẩm T1, Thạch Thanh Đ.
Ngày 28/3/2022, bà Lê Cẩm T1 có ký hợp đồng tín dụng số 7502-LAV-202001612/HĐTD với Ngân hàng N1, Chi nhánh huyện T, Phòng G để vay số tiền 70.000.000đ. Bảo đảm cho khoảng vay nên bà T1 đã thế chấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 3.919m², thuộc các thửa số 227 tờ bản đồ số 16 cấp vào ngày 30/12/2004 đứng tên ông Diệp Văn Đ1, bà Lê Cẩm T1.
Vợ chồng bà không có mượn đất của ông C, bà T nên không đồng ý theo yêu cầu của ông C, bà T.
Đối với phần đất bà T1, ông Đ1 xác định nhận chuyển nhượng từ bà D và ông N vào năm 2013 thì vợ chồng bà đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 2.951m² thửa 203 tờ bản đồ 16 vào ngày 22/5/2013 đứng tên Thạch Thanh Đ, Lê Cẩm T1. Phần đất này khi mua đã làm thủ tục tách thửa từ giấy chứng nhận của ông N, bà D, nhưng thực tế phần đất này bà D, ông N đang cho ông C, bà T mướn canh tác, đang thả tôm nên ông N, bà D chưa lấy lại được để bàn giao cho vợ chồng bà. Hiện vợ chồng ông, bà có yêu cầu buộc ông C, bà T giao trả phần đất này. Tại phiên tòa ông Đ, bà T1 xin rút lại yêu cầu, khi nào có yêu cầu sẽ khởi kiện ông C, bà T thành vụ án dân sự khác.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Q, bà P xin điều chỉnh phần đất đã mua của bà Cẩm T3, phần đất này bà T3 được cấp giấy chứng nhận giáp ranh với phần đất của vợ chồng bà đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số H00932 diện tích 3.919m² thửa 227, tờ bản đồ số 16 vào ngày 30/12/2004 đứng tên Lê Cẩm T1, Thạch Thanh Đ từ hướng Đông. Nhưng thực tế phần đất giáp ranh ở hướng Tây mà trước bà T3 đã sử dụng, canh tác. Nay chuyển nhượng cho ông Q, bà P đang sử dụng nối liền với phần đất thổ cư.
Do đó, việc yêu cầu điều chỉnh thửa trên theo giấy chứng nhận từ hướng Đông sang hướng Tây cho đúng với vị trí phần đất mà ông Q, bà P đang sử dụng sẽ không ảnh hưởng đến diện tích phần đất của vợ chồng bà nên đồng ý, không có ý kiến gì thêm.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P trình bày:
Vào năm 2017, vợ chồng bà có nhận chuyển nhượng 01 phần đất của bà Nguyễn Cẩm T3 phần đất diện tích 1 công tầm lớn (diện tích 1.296m²) chiều ngang 12m, chiều dài 108m nối liền phần đất thổ cư vợ chồng bà đang ở tính từ mặt tiền quốc lộc 63. Phần đất chuyển nhượng của bà T3 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất số BP 771246 thửa 895, tờ bản đồ 16, diện tích 1.296m² cấp ngày 17/9/2013.
Đến ngày 14/3/2017, bà P, ông Q được chuyển tên (chuyển trang 4) đứng tên bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Hữu Q. Phần đất trên giáp ranh một bên giáp đất ông Tôn Hưng V, một bên giáp đất bà Lê Cẩm T1. Theo thực tế phần đất của bà đã thể hiện tại bản vẽ ngày 12/01/2021 của C1 thực hiện, thửa đất hướng Bắc giáp với thửa 175; hướng Nam giáp với thửa 203 do bà T1, ông Đ đang quản lý sử dụng. Trước đây bà nghỉ rằng đất mua của bà T3 giáp với đất của ông C, bà T nên bà có thỏa thuận với bà T, ông C mua phần đất chiều ngang 01 mét, chiều dài nối với phần đất phía trước thành chiều ngang 13m dài 108m. Nhưng khi đo đạc thì phát hiện ông C, bà T không có đất giao nên có khởi kiện hủy hợp đồng, ông C, bà T đã hoàn tiền lại cho vợ chồng bà xong.
Nay bà P, ông Q yêu cầu giải quyết công nhận việc chuyển nhượng phần đất với bà T3 và yêu cầu điều chỉnh phần đất theo giấy chứng nhận cho phù hợp với thực tế (thửa đất bà T3 được cấp giấy chứng nhận giáp ranh với phần đất của ông Đ, bà T1 phía hướng Đ), phần đất giáp ranh với phần đất của ông Đ, bà T1 ở hướng Tây, thể hiện tại bản vẽ ngày 12/01/2021 của C1 thực hiện, diện tích theo giấy chứng nhận là 1.296m² có cạnh giáp ranh một bên của ông Thạch Thanh Đ, một bên Lê Cẩm T1 theo hướng Tây nối liền với phần đất thổ cư của ông bà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ngân hàng N1 trình bày:
Vào ngày 02/7/2018, ông Nguyễn Văn C có ký hợp đồng tín dụng số 7502-LAV-201803557/HĐTD với Ngân hàng N1, Chi nhánh huyện T, Phòng G để vay số tiền 195.000.000đ. Bảo đảm cho khoảng vay ông C đã thế chấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 12.295m², thuộc các thửa số 1052 (diện tích 100m2 thổ cư, 300m² vườn), thửa 1060 (diện tích 125m² vườn), thửa 669 (diện tích 11.770m² lúa) theo tờ bản đồ số 17 cấp vào ngày 22/7/2003 đứng tên ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T theo hợp đồng số 189/HĐTC ngày 23/6/2013.
Theo đơn yêu cầu độc lập, tính đến ngày 20/8/2021 ông C còn nợ số tiền 271.791.667đ (Trong đó: Vốn 195.000.000đ và lãi 76.791.667đ). Trong quá trình giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ trả nợ hoặc có ảnh hưởng đến tài sản thế chấp thì Ngân hàng mới yêu cầu ông C thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký. Trường hợp không thanh toán thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Ngày 28/3/2022, bà Lê Cẩm T1 có ký hợp đồng tín dụng số 7502-LAV-202001612/HĐTD với Ngân hàng N1, Chi nhánh huyện T, Phòng G để vay số tiền 70.000.000đ. Bảo đảm cho khoảng vay bà T1 đã thế chấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 3.919m², thuộc các thửa số 227 tờ bản đồ số 16 cấp vào ngày 30/12/2004 đứng tên ông Diệp Văn Đ1, bà Lê Cẩm T1.
Theo đơn yêu cầu độc lập, tính đến ngày 07/12/2022 bà T1 còn nợ số tiền 71.259.233đ (Trong đó: Vốn 70.000.000đ và lãi 1.259.23đ). Trong quá trình giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ trả nợ hoặc có ảnh hưởng đến tài sản thế chấp thì Ngân hàng mới yêu cầu bà T1 thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng đã ký. Trường hợp không thanh toán thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T đối với ông Thạch Thanh Đ, bà Lê Cẩm T1.
Phần đất yêu cầu không được chấp nhận (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00932 diện tích 3.919m² thửa 227 tờ bản đồ số 16 vào ngày 30/12/2004 đứng tên Lê Cẩm T1, Thạch Thanh Đ) theo đo đạc thực tế của Công ty TNHH P1 thực hiện ngày 17/11/2022 diện tích 4.919,5m².
Đình chỉ yêu cầu của ông Thạch Thanh Đ, bà Lê Cẩm T1 đối với ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T về việc đòi lại phần đất diện tích 2.951m² theo giấy chứng nhận QSD đất thửa 203, tờ bản đố 16 vào ngày 22/5/2013 đứng tên Thạch Thanh Đ, Lê Cẩm T1.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu giải quyết điều chỉnh thửa đất giáp ranh với phần đất của ông Đ, bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00932 diện tích 3.919m² thửa 227 tờ bản đồ số 16 vào ngày 30/12/2004 đứng tên Lê Cẩm T1, Thạch Thanh Đ từ thửa đất giáp ranh phía hướng Đông, sang thửa đất giáp ranh theo phía hướng Tây sao cho phù hợp thực tế hiện ông Q, bà P đang quản lý sử dụng (căn cứ theo giấy chứng nhận QSD đất số BP 771246 thửa 895, tờ bản đồ 16, diện tích 1.296m² do bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Hữu Q đứng tên (trang 4) ngày 14/3/2017).
(Kèm theo mảnh trích đo hiện trạng ngày 17/11/2022 của Công ty TNHH P1 thực hiện).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/4/2025, ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Lê Cẩm T1, ông Thạch Thanh Đ trả cho ông bà diện tích theo đo đạc thực tế 4.919,5m², huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lê Cẩm T1, ông Thạch Thanh Đ.
Ngày 08/4/2025, ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của ông bà điều chỉnh phần đất theo giấy chứng nhận cho phù hợp với thực tế đới với phần đất giáp ranh với phần đât của ông Đ, bà T1 ở hướng tây thể hiện tại bản vẽ ngày 12/01/2021 của C1 có diện tích 1.340m² thửa 203, tờ bản đồ số 16 bản đồ chỉnh lý năm 2018, toạ lạc tại ấp B, xã T, huyện T tỉnh Cà Mau cạnh giáp ranh một bên của ông Thạch Thanh Đ, bà Lê Cẩm T1 theo hướng tây nối liền với phần đất thổ cư của ông bà để ông bà được tiếp tục sử dụng đất. Ngày 16/6/2025, ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P có yêu cầu rút đơn yêu cầu độc lập và yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Nguyên đơn, ông Nguyễn Văn C tranh luận: Phần đất của ông mà ông N chuyển nhượng cho bà T1, ông Đ là không có cơ sở. Mong Tòa án buộc bà T1 trả đất cho ông.
Nguyên đơn, bà Phạm Thị T4 tranh luận: Việc chuyển nhượng đất của ông N, bà D là không đúng. Vì không có ai biết khi chuyển nhượng đất.
Bị đơn, bà Lê Cẩm T1 tranh luận: Bà nhận chuyển nhượng đất từ năm 2002. Bà đã sử dụng đất từ khi nhận chuyển nhượng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất từ năm 2004. Mong Tòa án xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 308; Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P về việc rút đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu kháng cáo. Không chấp nhận kháng cáo ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T. Hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P. Giữ nguyên một phần bản án sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Phần đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T theo đo đạc thực tế có diện tích 4.919,5m² thuộc thửa 227 tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau do ông Thạch Thanh Đ (Diệp Văn Đ1) và bà Lê Cẩm T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2004.
[2] Ông C, bà T cho rằng phần đất tranh chấp là của ông C, bà T cho bà T1, ông Đ1 mượn nhưng không có chứng cứ chứng minh việc cho mượn đất. Trong khi, tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T1, ông Đ1 thể hiện bà Trần Thị D, ông Nguyễn Văn N cho bà Lê Cẩm T1 3 công đất tầm cấy vào ngày 12 tháng 11 năm 2004 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T (Bút lục F). Theo hồ sơ cấp đất thể hiện, bà Trần Thị D để lại thừa kế cho bà Lê Cẩm T1, có biên bản xác minh nguồn gốc đất của Ủy ban nhân dân xã T có tứ cận ký tên chứng kiến. Như vậy, phần đất tranh chấp là của bà Trần Thị D, ông Nguyễn Văn N chuyển nhượng cho bà Lê Cẩm T1. Do đó, bà Lê Cẩm T1 trình bày có nhận thừa kế đất từ bà D, ông N là có căn cứ. Tại Công văn số 408 ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Công văn số 629 ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Chi nhanh văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác định: Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C, bà T, ông Đ1, bà T1 không có đo đạc cụ thể. Không xác định được quyền sử dụng đất được cấp cho ông C, bà T với ông Đ1, bà T1 có chồng lấn nhau hay không. Mặt khác, bà T1, ông Đ1 đã sử dụng đất ổn định, lâu dài từ năm 2002 đến nay, giữa các bên cũng đã có bờ bao rõ ràng. Án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi đất của ông C, bà T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm về phần này.
[3] Đối với yêu cầu của độc lập của ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08 tháng 4 năm 2025, ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Q, bà P điều chỉnh phần đất theo giấy chứng nhận cho phù hợp với thực tế đới với phần đất giáp ranh với phần đât của ông Đ1, bà T1 ở hướng tây thể hiện tại bản vẽ ngày 12/01/2021 của C1 có diện tích 1.340m² thuộc thửa 203 tờ bản đồ số 16 bản đồ chỉnh lý năm 2018 để ông Q, bà P được tiếp tục sử dụng đất. Ngày 16 tháng 6 năm 2025, ông Q, bà P có đơn yêu cầu rút toàn bộ yêu cầu độc lập và rút yêu cầu kháng cáo bản án sơ thẩm. Việc rút đơn khởi kiện và rút đơn kháng cáo của ông, bà là hoàn toàn tự nguyện, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác nên Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ án sơ thẩm và đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án đối với yêu cầu độc lập và yêu cầu kháng cáo của ông Q, bà P.
[4] Tại phiên toà, ông C, bà T yêu cầu ông Đ1, bà T1 trả phần đất tranh chấp nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông C, bà T.
[5] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T; chấp nhận yêu cầu rút đơn yêu cầu độc lập và rút đơn yêu cầu kháng cáo của ông Q, bà P. Giữ nguyên một phần bản án sơ thẩm số: 30/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T. Huỷ một phần bản án sơ thẩm số: 30/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T phải chịu 600.000 đồng. Ông C, bà T có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng, được đối trừ; ông C, bà T còn phải nộp số tiền 300.000 đồng.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 308, Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T.
Chấp nhận yêu cầu rút đơn yêu cầu độc lập và yêu cầu rút đơn kháng cáo ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P về việc điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng diện tích sử dụng thực tế.
Giữ nguyên một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Huỷ một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T kiện đòi ông Thạch Thanh Đ, bà Lê Cẩm T1 trả phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 4.919,5m² thuộc thửa 227 tờ bản đồ số 16, toạ lạc tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau do bà Lê Cẩm T1, ông Thạch Thanh Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
(Kèm theo Mảnh trích đo hiện trạng ngày 17/11/2022 của Công ty TNHH P1)
- Đình chỉ yêu cầu của ông Thạch Thanh Đ, bà Lê Cẩm T1 đối với ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T về việc đòi lại phần đất diện tích 2.951m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 203, tờ bản đố 16 vào ngày 22/5/2013 đứng tên Thạch Thanh Đ, Lê Cẩm T1.
- Huỷ một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2025/DS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 135/2025/TLPT-DS ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu giải quyết điều chỉnh thửa đất giáp ranh với phần đất của ông Thạch Thanh Đ, bà Lê Cẩm T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00932 diện tích 3.919m² thửa 227 tờ bản đồ số 16 vào ngày 30/12/2004 đứng tên Lê Cẩm T1, Thạch Thanh Đ từ thửa đất giáp ranh phía hướng Đông, sang thửa đất giáp ranh theo phía hướng Tây sao cho phù hợp thực tế hiện ông Q, bà P đang quản lý sử dụng (căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 771246 thửa 895, tờ bản đồ 16, diện tích 1.296m² do bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Hữu Q đứng tên (trang 4) ngày 14/3/2017).
(Kèm theo Mảnh trích đo hiện trạng ngày 12/01/2021 của Công ty TNHH MTV T5).
- Về chí phí thẩm định đo đạc, định giá:
Ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T phải chịu 11.425.000 đồng (đã thanh toán xong). Ông Thạch Thanh Đ, bà Lê Cẩm T1 phải chịu 5.000.000 đồng (đã thanh toán xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T phải nộp số tiền 15.988.000 đồng. Ngày 07/7/2022, ông C, bà T có nộp tạm ứng án phí số tiền 3.402.000 đồng theo Biên lai thu số 0015097 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được đối trừ, chuyển thu án phí. Ông C, bà T còn phải nộp thêm số tiền 12.586.000 đồng.
Ông Thạch Thanh Đ, bà Lê Cẩm T1 không phải nộp án phí. Ngày 29/12/2019, ông Đ, bà T1 có nộp tạm ứng án phí số tiền 1.476.000 đồng theo Biên lai thu số 0010834 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.
Ngân hàng N1 (Chi nhánh huyện T) không phải nộp án phí. Ngày 10/5/2022, Ngân hàng N1 (Chi nhánh huyện T) có nộp tạm ứng án phí số tiền 6.794.800 đồng theo B1 biên lai thu số 0014937 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.
Bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Hữu Q không phải chịu án phí. Ngày 14/12/2022 bà P, ông Q có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0003233 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Thị P được miễn nộp án phí.
Ông Nguyễn Văn C, bà Phan Thị T mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ngày 08/4/2025, ông C, bà T có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0022299 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ; ông C, bà T còn phải nộp số tiền 300.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 225/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 225/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nay ông C, bà T yêu cầu ông Đ, bà T1 trả lại cho ông bà diện tích phần đất cho mượn theo đo đạc thực tế do Công ty TNHH P1 thực hiện ngày 17/11/2022 có diện tích 4.919,5m2
