TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2024/DS-PT Ngày: 28/5/2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần thơ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Trong các ngày và 28 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 371/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 87/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 462/2023/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1964.
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1950
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1978.
Cùng địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Viết C – Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1949
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974
- Bà Đặng Thị Phương D, sinh năm 1977
Người đại diện theo ủy quyền cho bà T, ông S, bà D: Bà Nguyễn Thị Kim L1.
Cùng địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện T, TP Cần Thơ.
4. Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T, Cần Thơ II.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Công L2 – chức vụ: Trưởng phòng Kế hoạch, kinh doanh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Văn Ú (là cha của bà và ông Nguyễn Văn L) đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01133, thửa số 207, tờ bản đồ số 38, diện tích 1.726 m², đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, TP Cần Thơ. Sau đó, ông Út t cho bà phần đất này, bà Nguyễn Thị B được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 23/11/2017.Do phần đất này là lung trũng, mồ mả, cha của bà đứng tên quyền sử dụng nhưng cũng ít sử dụng mà phần lớn bỏ hoang. Đến tháng 4/2021 anh của bà là ông Nguyễn Văn L ngang nhiên vào chiếm sử dụng, trồng cây tràm. Bà yêu cầu ông L ngưng hành vi bao chiếm sử dụng đất nhưng ông L vẫn ngang nhiên sử dụng. Nay bà yêu cầu ông Nguyễn Văn L phải trả lại phần đất thửa số 207, tờ bản đồ số 38, diện tích đo đạc thực tế 1.187,3 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Nguyễn Thị B đứng tên, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 23/11/2017 (chỉnh lý trang 3). Giấy chứng nhận QSD đất hiện tại bà đã thế chấp vay tiền của Ngân hàng N1 - chi nhánh huyện T.
-Bị đơn ông Nguyễn Văn L trình bày: Phần đất tại thửa số 207 không phải của ông Nguyễn Văn Ú. Phần đất này vào năm 1978 ông mua của ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị T1 diện tích 1.329 m², với giá 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), hai bên có làm giấy tay nhưng thời gian lâu ông đã làm mất, phần đất này giáp với đất của ông Nguyễn Văn Ú và bà Huỳnh Thị Đ. Từ năm 1978 ông sử dụng đất trồng lúa, sau này trồng tràm. Đến tháng 12/2017 em ruột của ông là bà Nguyễn Thị B đến thông báo cho ông biết phần đất này bà B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của ông Nguyễn Văn Ú tặng cho. Phần đất của ông mua của ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị T1 mà bà Nguyễn Thị B tự ý làm giấy chứng nhận QSD đất là không đúng, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B. Ông có yêu cầu phản tố được tiếp tục ổn định sử dụng phần đất tại thửa số 207, tờ bản đồ số 38, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Cây tràm ông trồng vào năm 2021, còn tre và Bạch đàng thì có sẵn trên đất trước đó. Ông có nộp chứng
cứ là “Giấy mua bán đất ngày 18/9/1978”, ông giải thích cho giấy này như sau: Vì giấy mua bán đất năm 1978 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn B1, bà Nguyễn Thị T1 đã làm mất nên ông mới làm lại giấy này vào năm 2021 có chữ ký của bà Nguyễn Thị T1, còn ông Nguyễn Văn B1 thì đã chết. Đối với “Giấy xác nhận mua bán đất ngày 26/11/2021” ông cũng làm để cho bà Nguyễn Thị T1 xác nhận là có bán đất cho ông.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1 - chi nhánh huyện T trình bày: Vào năm 2018 bà Nguyễn Thị B có thế chấp giấy chứng nhận QSD đất số CH01133, thửa số 207, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T để vay của Ngân hàng số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), thời hạn vay 05 năm, đến tháng 10/2023 mới đến hạn hợp đồng tín dụng. Bà B vẫn thực hiện tốt theo hợp đồng tín dụng. Phía Ngân hàng không có ý kiến đối với tranh chấp của hai bên, bà B trả nợ thì Ngân hàng sẽ giải chấp tài sản thế chấp. Nếu không trả nợ đúng theo hợp đồng thì Ngân hàng sẽ khởi kiện đòi nợ vay.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 87/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B.
Buộc ông Nguyễn Văn L phải trả cho bà Nguyễn Thị B phần đất (vị trí A) có diện tích 1.187,3 m². Giấy chứng nhận QSD số CH01133, thửa số 207, tờ bản đồ số 38, được UBND huyện T cấp ngày 15/7/2011, bà Nguyễn Thị B được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận cấp giấy chứng nhận QSD đất theo hồ sơ số 00502.TA.001 ngày 23/11/2017.
(Kèm theo Bản trích đo địa chính số 397/TTKTTNMT ngày 08/5/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
Buộc ông Nguyễn Văn L phải di dời số cây tràm là khoảng 5.000 (năm ngàn) cây để trả lại quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn L.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn yêu cầu chấp nhận đơn phản tố của bị đơn, công nhận cho bị đơn được quyền sử dụng phần đất đang tranh chấp.
Luật sư của bị đơn trình bày: Chứng cứ là giấy mua bán đất mà bị đơn nộp có chữ ký của bà T1 là chủ đất. Giấy mua bán đất và giấy xác nhận mua bán đất
có nhiều người làm chứng ký tên đều xác nhận ông Nguyễn Văn L mua phần đất này của ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị T1. Do đó, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 114, có diện tích 1.187,3 m² cho ông Nguyễn Văn L, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ú, chỉnh lý biến động sang tên cho bà B1 và hủy phần đăng ký thế chấp để công nhận phần đất đang tranh chấp cho bị đơn, đồng thời yêu cầu cấp phúc thẩm đưa UBND huyện T vào tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nguyên đơn đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữu nguyên bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị B khai nhận: Nguồn gốc thửa đất tranh chấp do ông Nguyễn Văn Ú đứng tên được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ ngày 15/7/2011 số CH01133, thửa số 207, tờ bản đồ số 38, diện tích 1.726 m², đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, TP .. Ngày 20/10/2017, ông Nguyễn Văn Ú làm hợp đồng tặng cho bà Nguyễn Thị B, phần đất này được công chứng, chứng thực đến ngày 23/11/2017 bà Nguyễn Thị B được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận (chỉnh lý trang 3) về việc tặng cho bà Nguyễn Thị B. Bị đơn ông Nguyễn Văn L khai nhận thửa đất số 207 không phải của ông Nguyễn Văn Ú, thửa đất trên là của ông mua của ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị T1 vào năm 1978 với diện tích 1.329 m², với giá 200.000 đồng, 02 bên có làm giấy tay nhưng thời gian lâu ông đã làm mất, nên ông có nộp chứng cứ là “Giấy mua bán đất ngày 18/9/1978”, năm 2021 ông có làm lại giấy mua bán đất và đưa cho bà Nguyễn Thị T1 ký chữ ký xác nhận, còn ông Nguyễn Văn B1 thì đã chết. Đối với “Giấy xác nhận mua bán đất ngày 26/11/2021” ông cũng làm để cho bà Nguyễn Thị T1 xác nhận là có bán đất cho ông. Căn cứ vào hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các đương sự nhận thấy cấp sơ thẩm khi thụ lý hồ sơ vụ án thì phía bị đơn ông Nguyễn Văn L khai nhận ông mua đất của bà Nguyễn Thị T1 và ông Nguyễn Văn B1 nhưng cấp sơ thẩm không đưa ông L bà B1 vào tham gia tố tụng là vi phạm tố tụng. Đối với tờ mua bán đất ngày 18/09/1978, giấy xác nhận mua đất ngày 26/11/2021 và mẫu đơn
xác nhận đất đai ngày 14/07/2022 còn nhiều mâu thuẫn nhưng cấp sơ thẩm không xác minh làm rỏ các chứng cứ. Phía bị đơn ông Nguyễn Văn L cung cấp nhiều người làm chứng nhưng cấp sơ thẩm không triệu tập để làm rỏ các tình tiết của vụ án. Từ những chứng cứ đã thu thập thể hiện trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các đương sự tại tòa xét thấy cấp sơ thẩm giải quyết vụ án trên là chưa đúng quy định, vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 87/2023/DS-ST ngày 20/07/2023 của TAND huyện Thới Lai thành phố Cần Thơ, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên; của luật sư và những người tham gia tố tụng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn L phải trả lại phần đất tại thửa đất số 207 do nguyên đơn đứng tên giấy chứng nhận QSD đất, bị đơn có đơn phản tố yêu cầu công nhận phần đất tại thửa 207 cho bị đơn. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là phù hợp.
[2] Xét lời trình bày của bị đơn về việc bị đơn cho rằng phần đất đang sử dụng là mua của ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị T1 diện tích 1.329 m², với giá 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), hai bên có làm giấy tay nhưng thời gian lâu bị đơn đã làm mất. Bị đơn cung cấp “Giấy mua bán đất ngày 18/9/1978” và giải thích vì giấy mua bán đất năm 1978 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn B1, bà Nguyễn Thị T1 đã làm mất nên bị đơn mới làm lại giấy này vào năm 2021, do đó giấy mua bán này chỉ có chữ ký của bà Nguyễn Thị T1, mục đích để cho bà Nguyễn Thị T1 xác nhận là có bán đất cho bị đơn. Ngoài ra, tại Tờ tường trình của những người làm chứng như Võ Thành Đ1, Trần Thị N, Huỳnh Thị Q, Võ Thanh H, Nguyễn Hữu T2, Huỳnh Ru B2 và Hồ Thị B3 cho rằng đất đang tranh chấp do bị đơn mua và đã sử dụng từ trước đến nay. Xét thấy, những giấy tờ này mà bị đơn cung cấp là không khách quan, bởi lẽ bị đơn không cung cấp được giấy tờ mua bán đất với ông B1 và bà T1 từ năm 1978 như trình bày mà lại làm lại giấy mua bán ghi lùi thời gian, đưa cho bà T1 ký, có chữ ký của một số người khác rồi cho rằng đó là chứng cứ chứng minh cho việc vào sử dụng đất của bà B1, đồng thời bị đơn cũng cho rằng, đất tranh chấp phía bà T1 và ông B1 cũng chưa kê khai đăng ký quyền sử dụng đất. Xét từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1980 Nhà nước thực hiện nhiều chính sách cải cách ruộng đất. Đến năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định số 201-CP,
ngày 01/7/1980 về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước, tại phần IV quy định: “Để thực hiện thống nhất quản lý ruộng đất, tất cả các tổ chức và cá nhân sử dụng đất đều phải khai báo chính xác và đăng ký các loại ruộng đất mình sử dụng vào sổ địa chính của Nhà nước, Ủy ban nhân dân xã P kiểm tra việc khai báo này. Sau khi kê khai và đăng ký, các tổ chức hay cá nhân nào được xác nhận là người quản lý sử dụng hợp pháp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất....”. Như vậy, phía bị đơn cho rằng bị đơn nhận chuyển nhượng đất từ năm 1978 nhưng bị đơn không kê khai đăng ký đất trong khi đó tại bút lục số 30 Biên bản xét duyệt cấp đổi giấy CN.QSD đất ngày 26/5/2011 có ghi nhận ông Nguyễn Văn Ú số thửa 207 (số củ 535), tờ bản đồ số 38 (số củ 10) có diện tích 1.726m² (số củ 6600) loại đất LUA đều này chứng minh quá trình sử dụng đất ông Ú đã thực hiện đúng chủ trương của Nhà nước kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01133, thửa số 207, tờ bản đồ số 38, diện tích 1.726 m², được UBND huyện T cấp ngày 15/7/2011, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ là phù hợp với quy định của pháp luật. Sau đó, ông Ú có lập hợp đồng tặng cho bà Nguyễn Thị B phần đất này, bà Nguyễn Thị B được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 23/11/2017 và bà B đã thế chấp quyền sử dụng đất trên cho Ngân hàng để đảm bảo khoản vay của mình tại Ngân hàng. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lại phần đất đang canh tác có diện tích 1.187,3 m² là có cơ sở.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Ú, hủy phần chỉnh lý biến động sang tên cho nguyên đơn và hủy phần đăng ký thế chấp để đảm bảo khoản vay của ngân hàng, đồng thời đưa Ủy ban nhân dân huyện T tham gia với tư cách người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Đối với yêu cầu đưa UBND huyện T vào tham gia tố tụng, xét thấy tại đơn yêu cầu phản tố (bút lục 53) của bị đơn là yêu cầu được tiếp tục sử dụng ổn định trên phần đất số 207, tờ bản đồ số 38, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ nên không cần thiết đưa UBND huyện T tham gia tố tụng là phù hợp.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[6] Về án phí: do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn L.
- Về chi phí đo đạc, bản trích đo địa chính: Ông Nguyễn Văn L phải trả lại cho bà Nguyễn Thị B 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: miễn án phí cho bị đơn. Bà Nguyễn Thị B được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005634 ngày 04/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai.
Buộc ông Nguyễn Văn L phải trả cho bà Nguyễn Thị B phần đất (vị trí A) có diện tích 1.187,3 m². Giấy chứng nhận QSD số CH01133, thửa số 207, tờ bản đồ số 38, được UBND huyện T cấp ngày 15/7/2011, bà Nguyễn Thị B được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận cấp giấy chứng nhận QSD đất theo hồ sơ số 00502.TA.001 ngày 23/11/2017.
(Kèm theo Bản trích đo địa chính số 397/TTKTTNMT ngày 08/5/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
Buộc ông Nguyễn Văn L phải di dời số cây tràm là khoảng 5.000 (năm ngàn) cây để trả lại quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị B.
Án phí dân sự phúc thẩm: miễn án phí cho bị đơn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Tuyết Mai |
Bản án số 225/2024/DS-PT ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 225/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông L có hành vi chiếm đất bà B nên bà B kiện ông L
