|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 225/2024/HS-PT Ngày: 22 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Tuấn Anh
2. Ông Phan Thanh Nguyễn
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 170/2024/HSPT ngày 27 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Khương D, Đỗ Thành T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Phú B; Sinh ngày: 24/4/1987, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Đăng ký thường trú: 125/33 đường P, Phường C, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 234/34/19 đường P, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn P và bà: Tất Thị Ngọc T1; Có vợ: Trần Giai D1 và 02 người con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh ngày 30/01/2021; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
2. Nguyễn Ngọc K; Sinh ngày: 24/10/1991, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Đăng ký thường trú: 187/39 đường M, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Giữ xe; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Ngọc S và bà: Chiêm Thị Kiều T2; Có vợ: Hồ Như Xuân N và 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt
3. Nguyễn Khương D; Sinh ngày: 15/12/1992, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Đăng ký thường trú: 135/20 đường N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Công L và bà: Nguyễn Thị Thùy D2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
4. Đỗ Thành T; Tên gọi khác: Ty); Sinh ngày: 21/5/1991, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Đăng ký thường trú: Số A, Lô V, Cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ học vấn: 7/12; D Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Thành T3 và bà: Nguyễn Thị L1; Có vợ: Huỳnh Kiết C (đã ly hôn) và 01 người con, sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
Người bào chữa:
Ông Lê Văn Đ là luật sư của Văn phòng L4 và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, bào chữa cho các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K - Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có liên quan đến kháng cáo:
1. Bà Phạm Lý Thùy D3; Sinh năm: 1988; Nơi cư trú: 2 đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh - Có đơn xin xét xử vắng mặt
2. Bà Phạm Thị Huỳnh Như M; Sinh năm: 2002; Đăng ký thường trú: Ấp B, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: 588/3/3 đường T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt
3. Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2; Địa chỉ: 3 đường C, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Do ông Nguyễn Minh M1; Sinh năm: 1980 - Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật - Vắng mặt.
4. Ông Phạm Minh T4; Sinh năm: 1985; Đăng ký thường trú: Ấp T, thị trấn C, huyện C, Thành phố Cần Thơ; Chỗ ở: 4 đường M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 00 giờ 05 phút ngày 27/3/2022, tổ công tác thuộc Phòng C1 Công an Thành phố H (PC02) phối hợp cùng Công an Q kiểm tra hành chính Cơ sở kinh doanh K2 (Công ty Trách nhiệm hữu hạn K2), địa chỉ 364-366 đường C, Phường A, Quận F thì phát hiện tại phòng 203 (lầu 2) có một số đối tượng gồm: Lê Phú B, Nguyễn Khương D, Nguyễn Ngọc K, Đỗ Thành T, Phạm Lý Thùy D3 đang sử dụng ma túy. Qua kiểm tra, đã thu giữ trên bàn 01 cái đĩa tròn bằng sứ màu trắng, bên trong đĩa có chất bột màu trắng và 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 10.000 đồng (được cuộn tròn, trên hai đầu có gắn đầu lọc thuốc lá); 01 thẻ nhựa hình chữ nhật màu xanh. Sau đó, tổ công tác đã giao các đối tượng này cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Q giải quyết.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Phú B, Nguyễn Khương D, Nguyễn Ngọc K khai: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/3/2022, sau khi đi dự tiệc tân gia của một người bạn tại quận B, Lê Phú B, Nguyễn Khương D, Nguyễn Ngọc K rủ nhau đến quán K2 hát karaoke. Trên đường đi, B gọi điện thoại rủ Phạm Lý Thùy D3 cùng đến hát karaoke. Đến nơi, cả nhóm được nhân viên hướng dẫn lên phòng 203, lầu 2 của quán. Trong lúc hát karaoke, B rủ D, K hùn tiền mua “một chấm ma túy khay” sử dụng, tất cả đồng ý. Sau đó, B kêu D tìm chỗ mua ma túy, D liền điện thoại cho Đỗ Thành T thông qua ứng dụng Messenger nhờ mua ma túy. Khoảng 05 phút sau T gọi lại báo giá “một chấm ma túy khay” là 600.000 đồng, B, D, K đồng ý mỗi người hùn 200.000 đồng và thống nhất sau khi hát karaoke xong, K sẽ thanh toán toàn bộ chi phí trước (bao gồm cả tiền mua ma túy), sau đó chia ra 03 phần, B và D sẽ trả lại phần của mình cho K. Một lúc sau, T đem gói ma túy đến đưa cho K, K lấy ma túy ra để vào đĩa sứ màu trắng rồi dùng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng Việt Nam cuộn tròn lại gắn đầu lọc thuốc lá hai bên đầu để cùng D, T, D3 sử dụng. Riêng B say quá nên nằm ngủ không sử dụng. Đến 00 giờ 05 phút ngày 27/3/2022 thì bị Công an kiểm tra bắt giữ như nêu trên.
Đỗ Thành T khai: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/3/2022, sau khi nhận điện thoại của Nguyễn Khương D nhờ mua “một chấm ma túy khay”, T liên lạc với một người phụ nữ tên L2 (không rõ lai lịch) thông qua ứng dụng M2, tên F là “Phương L3” để nhờ L3 mua giúp một chấm ma túy khay, L3 đồng ý và báo giá là 600.000 đồng. T liền gọi lại báo giá cho D biết, D đồng ý và nói T đem ma túy đến phòng 203 (lầu 2), quán K2. Một lúc sau, L3 cho người đem gói ma túy đến giao cho T tại đầu hẻm A đường N, Phường A, Quận F. Sau khi có ma túy, T đem đến phòng 203 đưa cho K và trong lúc chờ K gom tiền trả, T đã ngồi xuống sử dụng ma túy cùng K, D, D3. Đến 00 giờ 05 phút ngày 27/3/2022 thì bị Công an kiểm tra bắt giữ. Ngoài ra, T khai không hưởng lợi gì từ việc mua ma túy, bản thân T cũng không hùn tiền để mua ma túy và trả tiền hát karaoke.
Phạm Lý Thùy D3 khai: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 26/3/2022, D3 đang ở nhà thì Lê Phú B gọi điện thoại rủ đến phòng 203 (lầu 2), quán K2 hát karaoke, D3 đồng ý. Khi vào phòng, D3 thấy trên bàn có để 01 đĩa sứ (do đèn trong phòng tối nên D3 không thấy rõ trên đĩa có chứa gì không). Sau đó, D3 ngồi xuống uống bia, hát karaoke và sử dụng ma túy cùng D, K, T đến 00 giờ 05 phút ngày 27/3/2022 thì bị Công an kiểm tra bắt giữ. Và D3 khai không biết số ma túy mà Công an thu giữ tại phòng 203 là của ai, ở đâu có, bản thân D3 không hùn tiền để mua ma túy và trả tiền hát karaoke.
Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy cùng ngày 27 tháng 3 năm 2022 của Trung tâm y tế Q1, Nguyễn Khương D, Nguyễn Ngọc K, Đỗ Thành T, Phạm Lý Thùy D3 đều dương tính với ma túy. Còn Lê Phú B âm tính với ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 1877/KL-KTHS ngày 01 tháng 4 năm 2022, Phòng C1 Công an Thành phố H đã kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Mai Trọng T5 (Điều tra viên), Phạm Minh T4 (người chứng kiến), Đỗ Thành T và hình dấu Công an P1, Quận F cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lương 0,0249g (không phẩy không hai bốn chín gam), loại Ketamine.
Đối với Phạm Lý Thùy D3, Phạm Thị Huỳnh Như M (nhân viên phục vụ phòng 203), Phạm Minh T4 (quản lý Cơ sở K2). Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Phú B, Nguyễn Khương D, Nguyễn Ngọc K, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi sử dụng ma túy của Phạm Lý Thùy D3, ngày 18/01/2023 Công an P1, Quận F đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đối với D3 về hành vi này (Quyết định số: 0012825/QĐ-XPHC).
Đối với người phụ nữ tên L3 (tên F là “Phương L3”) bán ma túy cho Đỗ Thành T, Cơ quan điều tra Công an Q đang tiến hành điều tra xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Lê Phú B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tùvề tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Khương D 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Đỗ Thành T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16 tháng 4 năm 2024 bị cáo Nguyễn Khương D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Ngày 19 tháng 4 năm 2024 bị cáo Đỗ Thành T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Ngày 19 tháng 4 năm 2024 các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm để điều tra làm rõ vai trò và trách nhiệm của bảo vệ, nhân viên phục vụ phòng và Chủ cơ sở K2 trong vụ án.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Khương D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255; xét xử bị cáo Đỗ Thành T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, qua đó tuyên phạt bị cáo Lê Phú B 07 năm 06 tháng tù; Nguyễn Ngọc K 07 năm 06 tháng tù; Nguyễn Khương D 07 năm tù và Đỗ Thành T 02 năm 06 tháng tù là phù hợp. Các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm để điều tra làm rõ vai trò và trách nhiệm của bảo vệ, nhân viên phục vụ phòng và Chủ cơ sở K2 trong vụ án; các bị cáo Nguyễn Khương D và Đỗ Thành T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không bổ sung được tình tiết nào mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Khương D, Đỗ Thành T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Khương D và Đỗ Thành T khai: Tối ngày 26/3/2022 các bị cáo B, K, D đến cơ sở K2 để hát Karaoke. Khi tới nơi các bị cáo hỏi nhân viên bảo vệ giữ xe của quán, quán có cho sử dụng ma túy không thì được bảo vệ cho biết là có, sau đó cả nhóm được nhân viên đưa lên phòng 203 (lầu 2) của quán. Tại đây B gọi điện thoại rủ Phạm Lý Thùy D3, D gọi điện thoại rủ Đô Thành T cùng đến hát karaoke. Trong lúc hát karaoke, B rủ D, K hùn tiền mỗi người 200.000 đồng mua ma túy để sử dụng, tất cả đồng ý nhưng chưa hùn tiền. B kêu D tìm chỗ mua ma túy, D nói Đỗ Thành T đi mua 600.000 đồng ma túy ma túy để cùng nhau sử dụng. T đồng ý và đi xuống gặp bảo vệ quán hỏi chỗ bán ma túy, thì được bảo vệ kêu ngồi chờ, một lát sau có người chạy xe Grap tới giao gói ma túy cho bảo vệ, bảo vệ đưa gói ma túy cho T và T trả 600.000 đồng (là tiền riêng của T) cho bảo vệ quán, sau đó T đem gói ma túy lên phòng 203 để ra bàn giữa phòng cho cả nhóm cùng sử dụng, đến 00 giờ 05 phút ngày 27/3/2022 thì bị Công an kiểm tra bắt giữ.
- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K trình bày quan điểm như sau: Các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K sử dụng ma túy tại quán K2 là được sự cho phép của bảo vệ quán, bảo vệ quán cũng là người bán ma túy cho bị cáo D, các bị cáo còn được nhân viên phục vụ quán cung cấp đĩa để sử dụng ma túy. Ngay trong đêm các bị cáo bị bắt giữ thì tại quán K2 còn có 05 phòng hát khác cũng phát hiện có người sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng không được điều tra làm rõ trách nhiệm của chủ quán K2. Do có nhiều thiếu sót trong điều tra vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Khương D, Đỗ Thành T làm trong hạn luật định, nên được giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Qua phần thủ tục xét hỏi, đối chất và tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Đỗ Thành T là người được bị cáo Nguyễn Khương D kêu đến quán Karaoke Hoàng K1 để hát cùng với nhóm bạn của D. Tại đây T được D nhờ đi mua ma túy cho cả nhóm sử dụng. T đồng ý và đi xuống nhờ Bảo vệ của quán mua 600.000 đồng ma túy bằng tiền của T rồi đem gói ma túy lên phòng 203 để ra giữa bàn cho cả nhóm sử dụng cho đến khi Công an vào bắt giữ. Qua đó cho thấy bị cáo T là người cung cấp ma túy cho các bị cáo K, D và Phạm Lý Thùy D3 cùng với bị cáo sử dụng. Đây là tình tiết mới mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung tại phiên tòa được.
Ngoài ra tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo B, K và Luật sư bào chữa cho hai bị cáo cho rằng bảo vệ, nhân viên phục vụ phòng và Chủ cơ sở K2 biết nhưng cho phép các bị cáo sử dụng ma túy trong phòng Karaoke và ngay trong đêm các bị cáo bị phát hiện bắt giữ thì tại quán còn có 05 phòng nữa cũng bị phát hiện có sử dụng ma túy nhưng chưa được cấp sơ thẩm xem xét xử lý, nên cần phải làm rõ.
- Từ những phân tích nhận định nêu trên, nhận thấy có căn cứ cho rằng việc điều tra ở cấp sơ thẩm chưa đầy đủ, có bị cáo có dấu hiệu phạm tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm. Nên Hội đồng xét xử thống nhất hủy bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 08-4-2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án về cho Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6 để điều tra lại theo thủ tục chung.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K và quan điểm của Luật sư bào chữa cho các bị cáo, không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Do hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử không xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Khương D, Đỗ Thành T.
[4] Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- [1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K.
- Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 0-8-4-2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án về cho Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra lại theo thủ tục chung.
- [2] Tiếp tục duy trì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Lệnh tạm hoãn xuất cảnh đối với các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Khương D và Đỗ Thành T cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại hồ sơ vụ án.
- [3] Các bị cáo Lê Phú B, Nguyễn Ngọc K, Nguyễn Khương D, Đỗ Thành T, không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- [4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |
Bản án số 225/2024/HS-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 225/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Phú Bình Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
