Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 225/2024/HS-PT

Ngày: 03/12/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thủy

Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Anh

Bà Hoàng Thị Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Chung – Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 304/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Văn L do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Bị cáo bị kháng nghị: Hoàng Văn L - sinh năm 1988; Trú tại: Tổ dân phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn T và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Ngô Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/3/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 25/3/2020, đã được xóa án tích; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đều vắng mặt.

  1. Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1985
    Nơi ĐKNKTT: Thôn Mậu Đông, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
    Chỗ ở: TDP Đồn Trại, phường Quảng Thọ, TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Chị Lê Thị T2, sinh năm 1991
    Địa chỉ: TDP C, phường Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 29/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S nhận được tố giác của quần chúng nhân dân về việc Hoàng Văn L, sinh năm 1988 ở tổ dân phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa cho vay lãi nặng. Tiến hành triệu tập làm việc, Hoàng Văn L thừa nhận hành vi cho vay lãi nặng và giao nộp 01 điện thoại Samsung A335G gắn sim số 0968.131.136.

Quá trình điều tra xác định: Từ năm 2022, Hoàng Văn L làm dịch vụ cầm đồ nên tiết kiệm được một khoản tiền. Do nhiều người có nhu cầu vay không có thế chấp tài sản nên L đã cho vay để tính lãi suất cao. Từ tháng 6/2022 đến ngày 29/5/2024, L cho nhiều người vay tiền bằng hình thức viết giấy vay, cho vay cắt lãi trước, thỏa thuận lãi ngoài 4.000đồng/triệu/ngày và yêu cầu người vay trả bằng tiền mặt hoặc chuyển tiền khi đến hạn trả qua tài khoản số [...] ngân hàng V của Hoàng Văn L. Cụ thể như sau:

  1. Nguyễn Thị A, sinh năm 1985, ở tổ dân phố Đ, phường Q, thành phố S vay 02 lần, cụ thể:

    - Lần 1: Tháng 6/2022, Nguyễn Thị A vay không kỳ hạn số tiền 20.000.000 đồng. L đồng ý, yêu cầu Nguyễn Thị A viết giấy vay tiền, thỏa thuận lãi suất 4.000đ/triệu/ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. L cắt lãi trước 2.400.000 đồng tháng đầu. Đến ngày 29/5/2024, Nguyễn Thị A đã trả được 22 tháng tiền lãi với tổng số tiền 52.800.000 đồng. Tiền lãi theo quy định nhà nước với lãi suất 20%/năm là 7.232.877 đồng, L thu lợi bất chính số tiền 45.567.123 đồng. Hiện nay Nguyễn Thị A chưa trả được tiền gốc.

    - Lần 2: Tháng 11/2022, Nguyễn Thị A vay 10.000.000 đồng, L yêu cầu Nguyễn Thị A viết giấy vay tiền, thỏa thuận lãi suất 4.000đ/triệu/ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. L cắt lãi trước 1.200.000 đồng tháng đầu. Đến ngày 15/6/2023, Nguyễn Thị A đã trả được tiền gốc và 07 tháng tiền lãi với tổng số tiền 8.400.000 đồng. Tiền lãi theo quy định nhà nước với lãi suất 20%/năm là 1.150.685 đồng, L thu lợi bất chính số tiền 7.249.315 đồng.

    Như vậy, tổng số tiền Hoàng Văn L thu lời bất chính là 52.816.438 đồng.

  2. Lê Thị T2, sinh năm 1991, ở tổ dân phố C, phường Q, thành phố S:

    Tháng 6/2022, Lê Thị T2 vay không kỳ hạn, số tiền 20.000.000 đồng, L yêu cầu Lê Thị T2 viết giấy vay nợ, thỏa thuận lãi suất 4.000đ/triệu/ngày, tương đương lãi suất 146%/năm. L cắt lãi trước 2.400.000 đồng tháng đầu. Đến tháng 9/2023, chị T2 đã trả được tiền gốc và 15 tháng tiền lãi với tổng số tiền 36.000.000 đồng. Tiền lãi theo quy định nhà nước với lãi suất 20%/năm là 4.931.507 đồng, L thu lợi bất chính số tiền 31.068.493 đồng.

Căn cứ Thông tư số: 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Ngân hàng N về quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng, xác định Hoàng Văn L đã cho 02 người vay, trong đó chị Nguyễn Thị A vay 02 lần nhưng L sử dụng số tiền thu nợ đó để tiếp tục quay vòng cho vay. Do đó, tổng số tiền L sử dụng để cho vay là 40.000.000 đồng, lãi suất 146%/năm cao gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, thu lời bất chính với tổng số tiền 83.884.931 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án Lê Thị T2 và chị Nguyễn Thị A không đề nghị L trả lại số tiền thu lời bất chính.

Bản án số 50/2024/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

- Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 201; Điều 36; 46; 47; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điều 61; 65; 331; 333; 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Hoàng Văn L, phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Xử phạt: Hoàng Văn L, 27 (Hai mươi bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án kể từ ngày Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, nhận được quyết định thi hành án.

Phạt bổ sung: Hoàng Văn L, 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu đồng).

Khấu trừ thu nhập cá nhân của bị cáo: Mỗi tháng 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng), kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Biện pháp tư pháp: Truy thu, sung quỹ nhà nước nguồn tiền do bị cáo sử dụng vào cho vay lãi nặng là 40.000.000 đồng. (Bốn mươi triệu đồng) và số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay là 83.884.931 đồng. (Tám mươi ba triệu, tám trăm tám mươi bốn nghìn, chín trăm ba mốt đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Tại Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-HS ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn kháng nghị một phần Bản án số 50/2024/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn. Theo đó đề nghị cấp phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 357 của BLTTHS, sửa bản án sơ thẩm theo hướng:

  • Truy thu của người liên quan Nguyễn Thị A số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng và chỉ buộc truy thu từ Hoàng Văn L số tiền 20.000.000 đồng.
  • Không truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo từ việc cho vay là 83.884.931 đồng.
  • Áp dụng đúng quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 BLHS.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Giữ nguyên nội dung kháng nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 357 BLTTHS; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án hình sự sơ thẩm về số tiền truy thu tiền gốc, tiền thu lời bất chính, sửa lời tuyên về cải tạo không giam giữ đối với bị cáo L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn kháng nghị trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Lợi dụng nhu cầu vay tiền cấp thiết của người dân, Hoàng Văn L có nguồn vốn gốc do làm nghề cầm đồ mà có là 40.000.000 đồng, nên trong khoảng thời gian từ tháng 6/2022 đến ngày 29/5/2024, L đã cho nhiều người vay bằng hình thức viết giấy vay, trong đó chị Nguyễn Thị A, vay 02 lần với tổng số tiền gốc là 30.000.000 đồng, với lãi suất 4.000đồng/triệu/ngày. L lấy lãi trước hàng tháng. Quá trình cho chị A vay L đã thu lợi bất chính của chị A là 52.816.438 đồng và cho chị T2 vay 20.000.000 đồng cắt lãi trước với lãi suất 4.000đồng/triệu/ngày, đã thu lợi bất chính của chị T2 là 31.068.493 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo thu lợi bất chính của chị A và chị T2 là 83.884.931 đồng.

Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[3]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân, gây mất trật tự trị an chung.

Khi quyết định hình phạt Bản án sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo là thành khẩn khai báo; tình tiết tăng nặng TNHS là phạm tội 2 lần trở lên; căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 27 tháng cải tạo không giam giữ là phù hợp.

- Truy thu, sung quỹ nhà nước số tiền gốc 40.000.000 đồng do bị cáo sử dụng vào cho vay lãi nặng.

Bị cáo sử dụng số tiền gốc 40.000.000đ cho chị Nguyễn Thị A và chị Lê Thị T2 vay. Đến tháng 9/2023, chị T2 đã trả lại cho bị cáo 20.000.000đ tiền gốc; chị A chưa trả lại 20.000.000đ tiền gốc cho bị cáo. Nhưng tại phần quyết định của bản án tuyên: Truy thu 40.000.000đ tiền gốc từ bị cáo để sung quỹ Nhà nước là không chính xác mà phải truy thu từ chị Nguyễn Thị A 20.000.000đ tiền gốc và truy thu của bị cáo 20.000.000₫ mới đúng quy định của pháp luật.

- Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính của người vay; cụ thể chị Nguyễn Thị A 52.816.438đ, chị Lê Thị T2 31.068.493đ, do chị A và chị T2 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi đã trả cho bị cáo, nên không truy thu của bị cáo số tiền 82.884.931 đồng. Nhưng bản án tuyên truy thu số tiền trên đối với cáo là không chính xác nên cần sửa lại không truy thu của bị cáo số tiền 82.884.931 đồng.

- Tại phần Quyết định của bản án không giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục... là chưa đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 36 BLHS. Nên bổ sung vào phần Quyết định của bản án: Giao bị cáo Hoàng Văn L cho UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, giám sát giáo dục trong thời gian bị cáo thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ tại địa phương. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Q trong việc giám sát, giáo dục bị cáo L.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm xác định thời hạn chấp hành án đối với bị cáo kể từ ngày Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hoá nhận được quyết định thi hành án là chưa chính xác mà sửa lại nội dung: Thời hạn chấp hành án đối với bị cáo, kể từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hoá, nhận được quyết định thi hành án.

[4]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Án phí HSPT: Do Viện kiểm sát có kháng nghị, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 357 của BLTTHS. Điểm d khoản 1 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
  2. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn. Sửa quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về truy thu tiền gốc; không truy thu đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm; lời tuyên cải tạo không giam giữ đối với bị cáo L.
    • Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
    • Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt: Hoàng Văn L 27 (Hai mươi bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố S, tỉnh Thanh Hoá nhận được quyết định thi hành án.
    • Giao bị cáo Hoàng Văn L cho UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ tại địa phương. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Q trong việc giám sát, giáo dục bị cáo L.
    • Phạt bổ sung: Hoàng Văn L 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
    • Khấu trừ thu nhập cá nhân của bị cáo: Mỗi tháng 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • * Biện pháp tư pháp:
      • Truy thu của bị cáo Hoàng Văn L số tiền 20.000.000đ; Truy thu của chị Nguyễn Thị A 20.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.
      • Không truy thu số tiền 83.884.931 đồng của bị cáo Hoàng Văn L.
  3. Án phí: Bị cáo Hoàng Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • VKSND tỉnh Thanh Hóa (p7);
  • Sở tư pháp Thanh Hoá;
  • TAND TP Sầm Sơn;
  • Công an TP Sầm Sơn;
  • Chi Cục THADS TP Sầm Sơn;
  • Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • Lưu hồ sơ vụ án; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 225/2024/HS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 225/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo cho vay với lãi suất cao
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger