|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 225/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/7/2024 Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm, bà Nguyễn Thị Bích Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 246/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/5/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 194/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990. ĐKHKTT: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương.
- Người được chị T ủy quyền giao, nhận văn bản: Anh Đặng Thái L, sinh năm 1985. Địa chỉ: KDC T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Hàn Quốc.
- - Người làm chứng:
- + Bà Phạm Thị D, sinh năm 1949. Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
- + Ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1964 và bà Bùi Thị X, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Các đương sự và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương ngày 15/7/2014. Vợ chồng ăn ở chung với mẹ đẻ của anh H đến khoảng năm 2015 thì chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Do kinh tế khó khăn và thỉnh thoảng vợ chồng mới gặp nhau nên không có sự chia sẻ, hỗ trợ, động viên nhau kịp thời dẫn đến thường xảy ra cãi nhau. Từ năm 2017 đến nay, anh H đi lao động tại Hàn Quốc và chưa về thăm vợ con lần nào. Số lần vợ chồng liên lạc với nhau qua điện thoại ngày càng ít dẫn đến tình cảm lạnh nhạt. Anh H nhiều lần trao đổi với chị về việc ly hôn nhưng vì các con còn nhỏ nên chị chưa làm thủ tục ly hôn. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh H.
Chị và anh H có hai con chung là Nguyễn Ngọc K- sinh ngày 21/12/2015, Nguyễn Phúc K1- sinh ngày 20/8/2017. Chị đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con cho tới khi thành niên và tự nguyện không yêu cầu anh H phải đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung, nợ chung.
Bà Phạm Thị D là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn H phản ánh: Anh H và chị T tự nguyện lấy nhau rồi ở chung với bà khoảng 7 tháng thì chị T về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Từ năm 2017 đến nay, anh H đi lao động tại Hàn Quốc dẫn đến vợ chồng không có điều kiện gần gũi để kịp thời quan tâm, động viên, hỗ trợ nhau làm cho tình cảm vợ chồng xa cách. Hai bên có nói chuyện với bà về việc chị T xin ly hôn anh H và bà đã khuyên bảo vợ chồng, đã gặp bố mẹ đẻ của chị T để tìm biện pháp hàn gắn tình cảm cho vợ chồng nhưng đều không có kết quả. Bà biết anh H đang lao động tại Hàn Quốc và anh H vẫn thường xuyên gọi điện thoại cho bà nhưng bà không biết địa chỉ sinh sống ở Hàn Quốc của anh H nên không có thông tin để cung cấp cho Tòa án. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thay anh H và đã thông báo cho anh H biết. Anh H có quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ cho các con đỡ khổ. Trường hợp chị T kiên quyết ly hôn thì anh cũng không có biện pháp để vợ chồng đoàn tụ và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.
Ông Nguyễn Đình T1, bà Bùi Thị X (là bố, mẹ đẻ của chị T) phản ánh: Sau khi được sự đồng ý của gia đình anh H thì chị T về ở với ông bà từ năm 2015 cho đến nay. Do kinh tế khó khăn nên vợ chồng thường xảy ra cãi nhau và số lần anh H đến thăm mẹ con chị T ngày càng ít. Từ năm 2017 đến nay, anh H đi lao động tại Hàn Quốc, chưa về thăm mẹ con chị T lần nào và vợ chồng cũng ít khi liên lạc với nhau. Nhận thấy thời gian vợ chồng chung sống cùng nhau thì ít mà xa nhau thì nhiều nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Vì vậy ông bà đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị T được ly hôn anh H.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn H. Giao hai con chung là Nguyễn Ngọc K- sinh ngày 21/12/2015, Nguyễn Phúc K1- sinh ngày 20/8/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung thành niên và có khả năng lao động để tự nuôi mình. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Buộc chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Anh Nguyễn Văn H đang sinh sống tại Hàn Quốc. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh của anh H ở thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương ngày 15/7/2014. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Trình bày của chị T phù hợp với phản ánh của đại diện hai bên gia đình nên có cơ sở xác định vợ chồng chỉ chung sống cùng nhau một thời gian ngắn thì mỗi người ở một nơi và do cuộc sống khó khăn nên hai bên thường xảy ra cãi nhau. Từ năm 2017 đến nay, anh H đi lao động tại Hàn Quốc nên vợ chồng không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nay chị T kiên quyết xin ly hôn, anh H không có biện pháp để vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân giữa chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị T được ly hôn anh H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung:
Chị T và anh H có hai con chung là Nguyễn Ngọc K- sinh ngày 21/12/2015, Nguyễn Phúc K1- sinh ngày 20/8/2017. Từ khi sống ly thân thì chị T luôn là người trực tiếp nuôi dưỡng các con và cháu K có nguyện vọng được ở cùng chị T. Cháu K1 bị bệnh tim bẩm sinh, chậm phát triển tâm thần vận động (không đi lại được). Hiện anh H không có mặt ở Việt Nam. Vì vậy cần chấp nhận đề nghị của chị T về việc giao hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên và có khả năng lao động để tự nuôi mình. Chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là tự nguyện nên được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung:
Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí:
Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H.
2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Ngọc K- sinh ngày 21/12/2015, Nguyễn Phúc K1- sinh ngày 20/8/2017 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung thành niên và có khả năng lao động để tự nuôi mình. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (do anh Đặng Thái L nộp thay) theo biên lai số 0000664 ngày 08/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
Bản án số 225/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 225/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T xin ly hôn anh H
