|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 2249/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-5-2024 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Bé
2. Ông Phạm Văn Tâm
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức không tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 362/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2817/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thanh T, sinh năm 1977 ( có mặt)
Căn cước công dân: 0751770210169
Địa chỉ: A L, khu phố B, phường T, thành phố T.
Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc N, sinh năm 1977 ( có mặt)
Căn cước công dân: [...]
Địa chỉ: A L, khu phố B, phường T, thành phố T.
NHẬN THẤY:
Trong đơn xin ly hôn ngày 31/01/2024 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Hoàng Thị Thanh T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Quốc N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận I nay là thành phố T ngày 15/3/2005. Cuộc sống chung hạnh có nhiều mâu thuẫn phát sinh do ông N không chịu đi làm để phụ giúp bà về kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái. Ngoài ra ông N còn cá độ đá banh, chơi lô đề. Ông N không có trách nhiệm với vợ con, không quan tâm đến cuộc sống gia đình dẫn đến hai bên không còn tình cảm để tiếp tục cuộc sống chung. Đôi bên đã ly thân từ tháng 10 năm 2023 đến nay. Bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc N.
2
Về con chung: Bà và ông N có hai người con chung tên Nguyễn Hoàng N1, sinh ngày 09/10/2005 đã trưởng thành và Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 07/8/2011. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung Hoàng Q, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Bà chăm sóc cho hai con từ nhỏ, có thu nhập ổn định 40.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có.
Bị đơn ông N trình bày: Ông xác nhận quá trình tiến đến hôn nhân giữa đôi bên đúng như bà T trình bày. Cuộc sống chung bình thường đến tháng 6/2023 hai bên xảy ra bất đồng quan điểm, thường xảy ra cãi vã. Đôi bên sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Tháng 12/2023 ông phát hiện bà T có quan hệ tình cảm bất chính với người khác. Bà T yêu cầu ly hôn, ông đồng ý ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông xác nhận vợ chồng có hai người con chung như bà T trình bày. Ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung Hoàng Q, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Lý do, bé Hoàng Q hiện đang ở với ông, được ông chăm sóc từ nhỏ đến nay và ông có nơi ở ổn định và có nguồn thu nhập ổn định ( có mặt bằng cho thuê và làm tài xế xe điện Vinfast) số tiền 20.0000.000 đồng/tháng. Người con chung Nguyễn Hoàng Nguyên, sinh ngày 09/10/2005 đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Không có. Nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Thanh T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi người con H, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Bà có công việc và thu nhập ổn định, định hướng được việc học hành cho bé Q. Tiền học ở trường và tiền học thêm tiếng anh cho bé đều do bà lo. Ông N trước giờ không có công việc ổn định, mới đi làm lại từ tháng 2/2024 đến nay. Ông N có tật xấu là đánh đề, cá độ đá banh nên nếu giao bé Q cho ông N nuôi dưỡng sẽ không tốt cho sự phát triển của bé. Tài sản chung và nợ chung không có.
Ông Nguyễn Quốc N đồng ý ly hôn với bà T. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng bé Hoàng Q vì ông có nhà cửa ổn định, trong khi bà T ở nhà thuê; ông có công việc và thu nhập ổn định, có đủ sức khỏe và thời gian đưa đón con đi học trong khi bà T làm việc từ sáng đến tối mới về. Bé Q sinh sống ổn định và quen với môi trường học hành ở đây. Tình cảm cha con rất gắn bó thương yêu nhau. Bà T ngoại tình nên không đủ tư cách, đạo đức để nuôi dạy bé Hoàng Q. Trường hợp được nuôi bé Q, ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
3
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Hoàng Thị Thanh T và ông Nguyễn Quốc N đã được Ủy ban nhân dân phường T, Quận I nay là thành phố T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2005 quyển số 01 ngày 15/03/2005. Bà T yêu cầu ly hôn với lý do cuộc sống chung giữa hai vợ chồng không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn và ông Nguyễn Quốc N cư trú tại phường T, thành phố T. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Theo lời khai của bà T và ông N thì hai bên tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2005. Từ 06/2023 đôi bên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, thường xảy ra cãi vã và đã ly thân từ tháng 6/2023 đến nay, không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”
Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, không còn tình cảm, ly thân kéo dài, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông N là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Người con chung Nguyễn Hoàng Nguyên, sinh năm 2005 đã trưởng thành. Người con Nguyễn Hoàng Q còn nhỏ, hiện đang ở với ông N.
Bà T và ông N đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung Nguyễn Hoàng Quân, nhưng đôi bên không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Tại bản trình bày nguyện vọng ngày 12/4/2024, bé Nguyễn Hoàng Q có nguyện vọng được ở với mẹ khi cha mẹ không chung sống với nhau.
Xét bà T và ông N đều có công việc, thu nhập ổn định, đều đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng bé Hoàng Q, tuy nhiên bé Hoàng Q có nguyện vọng được ở với mẹ nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao bé Hoàng Q cho bà Hoàng Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.
4
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T tự nguyện không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung: Bà T và ông N đều xác định không có tài sản chung.
[2.4 Về nợ chung: Bà T và ông N đều xác định không có nợ chung.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Hoàng Thị Thanh T phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0025213 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Quốc N.
Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2005 quyển số 01 ngày 15/03/2005 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận I nay là thành phố T cấp cho bà Hoàng Thị Thanh T và ông Nguyễn Quốc N không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao người con chung Nguyễn Hoàng Quân, sinh ngày 07/8/2011 cho bà Hoàng Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận việc bà Hoàng Thị Thanh T tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn Quốc N cấp dưỡng nuôi con chung.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
2. Về án phí: 300.000 đồng bà Hoàng Thị Thanh T phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0025213 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
5
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phương Thảo |
Bản án số 2249/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 2249/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu ly hôn ông N, yêu cầu được nuôi con chung
