Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2244/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31/5/2024.

Về việc “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Đời.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cửu Long;

Bà Võ Thị Gái.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm số: 988/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1918/2024/QĐXXST-DS ngày 13/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Đăng T, sinh năm 1982; CCCD số: [...]. Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội, (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Hoàng Thị Thu T1, sinh năm 1984; Hộ chiếu số: C7898744. Địa chỉ: E Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung Đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn ông Phan Đăng T trình bày: Về quan hệ hôn nhân, ông T và bà Hoàng Thị Thu T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Hà Tây cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển 01/ĐKKH ngày 30/10/2005. Sau khoảng thời gian chung sống hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng vài năm gần đây xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, hai người bất đồng quan điểm sống, sau đó hai vợ chồng sống ly thân một thời gian dài. Ông T xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Hoàng Thị Thu T1.

Về con chung: Ông T khai ông và bà T1 có 02 người con chung tên Phan Đăng Anh T2, sinh ngày 19/10/2006 và Phan Linh Đ, sinh ngày 24/12/2010. Ông T yêu cầu Tòa án giao hai con chung cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

Đồng thời, ông T có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo nội dung bản tự khai, bị đơn bà Hoàng Thị Thu T1 trình bày: Bà T1 xác nhận những lời trình bày của ông T về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nay ông T yêu cầu ly hôn, bà đồng ý ly hôn; hai ông bà có 02 người con chung tên Phan Đăng Anh T2, sinh ngày 19/10/2006 và Phan Linh Đ, sinh ngày 24/12/2010, bà đồng ý yêu cầu của ông T về việc giao hai con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; việc cấp dưỡng hai người tự thỏa thuận; tài sản chung, nợ chung bà không yêu cầu giải quyết. Đồng thời, bà Thương yêu c được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ giữa bà với ông T.

- Tại Bản ý kiến của con chung trên 7 tuổi, hai cháu Phan Đăng Anh T2Phan Linh Đ thống nhất trình bày: Hai cháu là con chung của ba mẹ - Phan Đăng THoàng Thị Thu T1, nay ba mẹ ly hôn không sống chung nữa thì nguyện vọng của hai cháu là được sống chung với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, nguyên đơn - ông Phan Đăng T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - bà Hoàng Thị Thu T1, do đó căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ cư ngụ tại thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2] Về thủ tục tố tụng:

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Xét Bản tự khai, Đ1 đề nghị không hòa giải đoàn tụ và xin vắng mặt của đương sự đã được thực hiện theo quy định nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của hai bên, có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển 01/ĐKKH, đăng ký ngày 30/10/2005 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Hà Tây. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải hòa, nguyên đơn và bị đơn hiện sống ly thân nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có sự gắn kết. Do hai người hoàn toàn không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nay nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn là có cơ sở, mặt khác tại bản tự khai bị đơn cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, điều đó thể hiện cả hai bên không có ý muốn đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Ông T, bà T1 có 02 người con chung tên Phan Đăng Anh T2, sinh ngày 19/10/2006 và Phan Linh Đ, sinh ngày 24/12/2010. Ông T yêu cầu sau khi ly hôn, giao hai con chung nêu trên cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; việc cấp dưỡng do hai bên tự thỏa thuận. Xét thấy, theo bản tự khai ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi, hai cháu Phan Đăng Anh T2Phan Linh Đ thống nhất ý kiến có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Đồng thời, bà T1 cũng thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của ông T, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên. Giao hai con chung nêu trên cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Ông T và bà T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn ông Phan Đăng T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Phan Đăng T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Đăng T ly hôn với bà Hoàng Thị Thu T1. Quan hệ hôn nhân giữa ông Phan Đăng T và bà Hoàng Thị Thu T1 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển 01/ĐKKH, đăng ký ngày 30/10/2005 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Hà Tây) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Về con chung: Ông T và bà T1 có 02 người con chung tên: Phan Đăng Anh T2, sinh ngày 19/10/2006 và Phan Linh Đ, sinh ngày 24/12/2010. Công nhận sự thỏa thuận giữa ông T và bà T1 về việc giao hai con chung nêu trên cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về cấp dưỡng: Hai bên tự thỏa thuận.

1.4. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận.

1.5. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Phan Đăng T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông T đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026574 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Ông Phan Đăng T, bà Hoàng Thị Thu T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật.

4. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Cửu Long Võ Thị G

Danh Đời

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thủ Đức;
  • - UBND xã Long Xuyên, H.Phúc Thọ, Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án, (Đ-Hà), 12.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Danh Đời

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2244/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 2244/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tòa án cho ly hôn với bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger