Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2242/2024/ HNGĐ-ST

Ngày: 31/5/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.

- Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Phước.
  2. Ông Cao Quốc Hưng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 05 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2483/2023/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2483/2023/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 2483/2024/QÐST-TA ngày 10 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1974

Thường trú: Căn hộ B, Chung cư T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Giang Lê Q, sinh năm 1973

Thường trú: Căn hộ B, Chung cư T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh

Bà H xin vắng mặt, ông Q vắng không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên Tòa ngày hôm nay bà Nguyễn Thị Thanh H tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Bà và ông Giang Lê Q trước đây là vợ chồng, có đang ký kết hôn vào năm 2000 sau đó thì bà và ông Giang Lê Q ly hôn. Có quyết định giải quyết ly hôn của Tòa án. Năm 2018 thì bà và ông G Lê Quyền sống lại với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 13 tháng 4 năm 2018 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Trong thời gian sống với nhau, ông Giang Lê Q vẫn chứng nào tật đó, không hề thay đổi, độc đoán và bào hành. Sống với nhau không được nên bà đã về nhà mẹ ruột sống, ông Giang Lê Q vẫn sống tại căn hộ B, Chung cư T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt mục đích, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Giang Lê Quyền . Tính từ thời điểm bà và ông Giang Lê Q kết hôn lại lần 2 vào năm 2018 cho cho đến nay, bà và ông Giang Lê Q không có con chung. Về tài sản chung và nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – ông Giang Lê Q vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không có thu thập được lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Từ khi Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh H là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh H. Về con chung, tài sản chung và nợ chung, bà Nguyễn Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Giang Lê Q là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, do đó căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T, do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Ông Giang Lê Q là bị đơn trong vụ án, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông G Lê Quyền tất cả các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng ông Giang Lê Q đều không đến Tòa, không có đơn trình báo. Thái độ bất hợp tác của ông Giang Lê Q đã thể hiện sự không tôn trọng pháp luật, không tôn trọng Toà án, hành vi trên cũng đồng nghĩa với việc tự từ bỏ nghĩa vụ cũng như quyền lợi của mình mà pháp luật đã qui định; Nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

2. Về nội dung:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của đương sự thì bà Nguyễn Thị Thanh H yêu cầu được ly hôn ông Giang Lê Q; Về con chung không có. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét:

[1] Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh H, yêu cầu được ly hôn với ông Giang Lê Q, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh H, Hội đồng xét xử xét: Bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Giang Lê Q tự nguyện chung sống và được Ủy ban nhân dân phường T, Quận B nay là phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 14, ngày 13 tháng 4 năm 2018 nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Giang Lê Q là hôn nhân hợp pháp đúng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Thanh H cho biết bà và ông G Lê Q là vợ chồng, đã 01 lần ly hôn do ông Giang Lê Q độc đoán và bạo hành. Nhưng gì còn thương ông Giang Lê Q nên bà chấp nhận bỏ qua tất cả và cả hai sống lại với nhau như vợ chồng, bà hy vọng ông Giang Lê Q sẽ tự vấn và thay đổi. Theo yêu cầu của ông Giang Lê Q và và ông Giang Lê Q đã đến Ủy ban nhân dân để đăng ký kết hôn, Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã cấp cho ông bà Giấy đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian sống với nhau, ông Giang Lê Q vẫn chứng nào tật đó, không hề thay đổi. Bà thấy hiện tại bà và ông Giang Lê Q không còn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hiện tại bà và ông Giang Lê Q đã sống ly thân gần 01 năm nay. Từ lời trình bày của bà Nguyễn Thị Thanh H và qua hành vi không đến Tòa của ông Giang Lê Q đã cho thấy thực chất mẫu thuẫn gia đình giữa bà Nguyễn Thị Thanh H, ông Giang Lê Q là có thật và tồn tại trong khoảng thời gian dài, các bên đã không tích cực tìm cách giải quyết mâu thuẩn, trở về đoàn tụ, cùng chung lo hạnh phúc gia đình và tương lai của con, ngược lại cả hai đều bỏ mặc. Cách hành xử của bà Nguyễn Thị Thanh H, ông Giang Lê Q đã thể hiện cả hai đã không còn thật sự yêu thương nhau, không còn tôn trọng nhau. Do đó việc duy trì đời sống hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh H, ông Giang Lê Q sẽ không mang lại điều gì tốt đẹp mà chỉ gây tổn hại thêm cho cả hai phía. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh H là có căn cứ, đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

[3] Trong quá trình tố tụng, ông Giang Lê Q đã biết việc bà Nguyễn Thị Thanh H đã có đơn yêu cầu được ly hôn với ông, nhưng ông đã không đến Tòa, không có văn bản nêu ý kiến của mình. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh H có yêu cầu ly hôn nên bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 198; Điều 220, Điều 227; Điều 271; Điều 273, Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
  • Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh H.

Bà Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn với ông Giang Lê Quyền .

Giấy chứng nhận kết hôn số 14, do Ủy ban nhân dân phường T, Quận B nay là phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13 tháng 04 năm 2018 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thanh H, ông Giang Lê Q chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật;

2. Về con chung: Không có

3. Tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án xem xét.

4. Về án phí: Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng), bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) mà bà Nguyễn Thị Thanh H đã nộp theo biên lai thu số 0005799 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức lập. Bà Nguyễn Thị Thanh H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản sao bản án tại chính quyền địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKS ND TP.HCM;
  • - VKSND TP Thủ Đức;
  • - Chi Cục THADS TP Thủ Đức;
  • - UBNDP Thảo Điền, Thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Lũy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2242/2024/ HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 2242/2024/ HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger