|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 224/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2024
“V/v Tranh chấp xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Len
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Mỹ Lil
Bà Nguyễn Kim Lên
Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Nga Muội - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/02/2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/5/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Bích T, Sinh năm 1996 (xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
-
Bị đơn: Anh Phạm Quốc A, Sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bích T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Quốc A chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T ngày 19/6/2017.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không phù hợp, thường xuyên cự cải mối quan hệ hôn nhân không đạt được chị yêu cầu ly hôn với anh Phạm Quốc A.
Con chung: Vợ chồng có một người con chung cháu Phạm Huỳnh Bảo N, sinh ngày 23/12/2014. Sau khi ly hôn yêu cầu được nuôi con chung cháu N, không yêu cầu anh Phạm Quốc A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tại các phiên tòa sơ thẩm.
Anh Phạm Quốc A đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không có ý kiến hay văn bản trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Xét về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Huỳnh Thị Bích T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phạm Quốc A, bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, do đó xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự “Tranh chấp xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vắng mặt đương sự: Chị Huỳnh Thị Bích T xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Quốc A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét về yêu cầu ly hôn: Chị Huỳnh Thị Bích T và anh Phạm Quốc A chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K ngày 19/6/2017, do đó hôn nhân của anh chị hợp pháp được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẩn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cải, chị T yêu cầu ly hôn anh Phạm Quốc A. Anh Phạm Quốc A đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không có ý kiến hay văn bản trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Hội đồng xét xử thấy rằng vợ chồng phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng anh chị không làm được đều đó, hơn nữa chị T và anh Phạm Quốc A không có thiện chí để hòa giải hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, thấy rằng mối quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Bích T ly hôn với anh Phạm Quốc A là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Con chung: Chị T và anh Phạm Quốc A có một người con chung cháu Phạm Huỳnh Bảo N, sinh ngày 23/12/2014. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi con chung cháu Phạm Huỳnh Bảo N. Cháu N đã hơn 07 tuổi, Tòa án ghi ý kiến của cháu N nguyện vọng của cháu là muốn sống với mẹ (Huỳnh Thị Bích T) sau khi cha mẹ cháu ly hôn, để không làm sáo trộn cuộc sống của các cháu cũng như theo nguyện vọng của cháu N, tiếp tục giao cháu Phạm Huỳnh Bảo N cho cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi; Anh Phạm Quốc A có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.
Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.2] Xét về tài sản chung, nợ: Chị T xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này giữa chị T và anh Phạm Quốc A có phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[3] Xét về án phí: Chị Huỳnh Thị Bích T là người yêu cầu nên phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận khởi kiện của chị Huỳnh Thị Bích T về việc yêu cầu ly hôn với anh Phạm Quốc A.
Con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Huỳnh Bảo N, sinh ngày 23/12/2014 cho chị Huỳnh Thị Bích T nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi; Anh Phạm Quốc A có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Bích T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị T đã dự nộp tạm ứng án phí, lệ phí 300.000 đồng theo biên lai số 0004597 ngày 28/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trân Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.
-
Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Len |
3
Bản án số 224/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 224/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Bích T khởi kiện ly hôn với Phạm Quốc A
