|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 224/2025/HSST |
Ngày: 23/5/2025 |
NHÂN DANH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan
Ông Lê Việt Cường
- Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa : Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 217/2025/TL-HSST ngày 26 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2025/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Trịnh Đình G (tên gọi khác không), sinh ngày 25/11/1993 tại tỉnh Thanh Hóa.
Nơi thường trú: Phố T, thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện tại: Phòng trọ số 01, số nhà B, đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc : Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số thẻ CCCD : [...] ; con ông Trịnh Đình K, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; vợ, con : Không.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Năm 2021 bị Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2025 đến ngày 06/02/2025, chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Vũ Huy T, (tên gọi khác không) sinh ngày 25/5/1999 tại tỉnh Thanh Hóa.
Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số nhà I Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số thẻ CCCD: [...]; con ông Vũ Huy H, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1978; vợ, con: Không.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2025 đến ngày 06/02/2025, chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đào Thị Nguyệt M (tên gọi khác: N), sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: TDP T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Trưa ngày 27/01/2025, tại phòng trọ số A, số nhà B N, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Đình G đã có hành vi chuẩn bị 03 viên ma túy hồng phiến, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa đục lỗ gắn ống nhựa, mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga. Sau đó G lấy 01 viên ma túy hồng phiến ra một mình sử dụng hết. Còn lại 02 viên, G gói vào giấy bạc cất giấu cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại khay đựng cốc để trên gác xép phòng trọ. Khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, G gọi điện thoại qua M1 cho Vũ Huy T rủ T đến phòng cùng sử dụng ma túy thì T đồng ý nên đến phòng trọ của G. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T giục G “chơi sớm đi để nghỉ ngơi” thì T và G cùng đi lên gác xép, T mở gói giấy bạc thấy có 02 viên ma túy hồng phiến. T lấy 01 viên, bỏ lên mảnh giấy bạc, đặt chai nhựa lên đầu gối rồi dùng bật lửa đốt hồng phiến để hút. Tiếp đó, T đốt cho G hút (G cầm chai nhựa). T đốt hồng phiến cho mình và G hút hết viên đầu tiên thì tiếp tục bỏ viên hồng phiến còn lại lên mảnh giấy bạc. Lúc này, T và G tự đốt hồng phiến để hút. Sau khi sử dụng hết ma túy, G vo các mảnh giấy bạc lại, vứt vào thùng rác còn T nằm ngủ. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an thành phố T phối hợp với Công an phường L, thành phố T tiến hành kiểm tra phòng trọ số 01 của G phát hiện G và T có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tại chỗ, G và T khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trước đó. Tổ công tác tiến hành lập biên bản và đưa G và T về trụ sở Công an phường L làm việc. Nhận thấy hành vi không thể trốn tránh Trịnh Đình G, Vũ Huy T đầu thú, khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Ngày 27/01/2025 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Đình G tại phòng trọ số A số nhà B N, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện thu giữ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa gắn ống nhựa, 01 bật lửa, 02 mảnh giấy bạc vo tròn.
Về nguồn gốc ma túy, G khai nhận: Trưa ngày 27/01/2025, G gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Đào Thị Nguyệt M (sinh năm 1988, trú tại TDP T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) xin ma túy để sử dụng thì được M đồng ý, sau đó M mang 03 viên má túy hồng phiến đến phòng trọ cho G. G một mình sử dụng hết 01 viên, 02 viên còn lại G gọi điện rủ T đến chơi cùng. Khoảng 18 giờ cùng ngày G và T cùng nhau đã sử dụng hết 02 viên ma túy còn lại.
Kết quả test ma túy của Trịnh Đình G và Vũ Huy T xác định: Dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Kết luận giám định ma túy số 652/KL-KTHS ngày 04/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T xác định: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Trịnh Đình G, Vũ Huy T gửi đến giám định.
Ngày 27/01/2025 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Thị Nguyệt M tại TDP T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa: Không thu giữ được gì.
Tiến hành lấy lời khai Đào Thị Nguyệt M khai nhận: Khoảng cuối tháng 12/2024, M đi xe khách từ Ninh Bình về Thanh Hóa, trên xe ngồi cạnh một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, đeo khẩu trang (tự giới thiệu tên H1, quê Nghệ An). Qua trò chuyện, người phụ nữ đã cho M 03 viên ma túy hồng phiến, nói “khi nào bị đau bụng thì sử dụng cho đỡ đau”. Nhận ma túy từ H1, M mang về nhà cất nhưng không sử dụng. Trưa ngày 27/01/2025, G gọi điện cho M qua ứng dụng M1 hỏi xin ma túy. Do sẵn có 03 viên ma túy hồng phiến trong nhà, M đồng ý, rồi mang đến phòng trọ cho G, sau đó ra về, còn G sử dụng ma túy khi nào, với ai M thì không biết, không tham gia.
Kết quả test ma túy của Đào Thị Nguyệt M: Âm tính với chất ma túy.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 Chai nhựa gắn ống nhựa, 01 bật lửa, 02 mảnh giấy bạc vo tròn;
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, gắn số thuê bao 0974085522 của Trịnh Đình G và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, gắn số thuê bao 0949296133 của Vũ Huy T là phương tiện liên lạc để các bị can thực hiện hành vi phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 153/CT-VKSNDTPTH ngày 26/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trịnh Đình G và Vũ Huy T về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo qui định tại khoản 1 Điều 255 - BLHS.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 255, Điều 17; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 - BLHS (đối với Trịnh Đình G và Vũ Huy T);
Xử phạt:
- Bị cáo Trịnh Đình G từ 30 đến 33 tháng tù.
- Bị cáo Vũ Huy T từ 27 đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản và không có nghề nghiệp ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa gắn ống nhựa, 01 bật lửa, 02 mảnh giấy bạc vo tròn;
Tịch thu phát mãi sung công quỹ nhà nước:
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, gắn số thuê bao 0974085522 của Trịnh Đình G.
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, gắn số thuê bao 0949296133 của Vũ Huy T.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 27/01/2025, tại phòng trọ số A, số nhà B N, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Đình G và Vũ Huy T đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho nhau cùng sử dụng.
[3] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Do đó cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của Trịnh Đình G và Vũ Huy T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Trịnh Đình G và Vũ Huy T đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho nhau cùng sử dụng.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của các bị cáo là nguyên nhân tệ nạn nghiện ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, lây truyền bệnh HIV... Do đó cần được đưa ra xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trịnh Đình G và Vũ Huy T không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Bị cáo Trịnh Đình G có nhân thân xấu năm 2021 bị C tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo Trịnh Đình G và bị cáo Vũ Huy T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú (Đối với bị cáo Trịnh Đình G có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang) đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản và không có nghề nghiệp ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với Đào Thị Nguyệt M là người đã cho Trịnh Đình G 03 viên ma túy để sử dụng. Việc G, T sử dụng ma túy, M không biết, không tham gia. Số ma túy này G, T đã sử dụng hết, không xác định được khối lượng, do đó không có căn cứ xử lý N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đối với người phụ nữ tên H1 đã cho Đào Thị Nguyệt M 03 viên ma túy hồng phiến, M khai không rõ nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án.
Đối với hành vi của Trịnh Đình G một mình sử dụng hết 01 viên ma túy hồng phiến, hành vi này của G hoàn toàn độc lập, không gắn liền với diễn biến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy sau đó cùng T, nên chuyển Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với chị Dương Thị N1 là chủ nhà trọ 2 N, phường L, thành phố T cho Trịnh Đình G thuê. Hợp đồng thuê trọ thỏa thuận G được toàn quyền quản lý và sử dụng. Việc G cùng T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chị N1 không biết, không tham gia. Vì vậy, không xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị N1.
[7] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy : 01 Chai nhựa màu trắng, thân chai đục lỗ gắng ống nhựa, 01 bật lửa ga, 02 mảnh giấy bạc vo tròn;
Tịch thu phát mãi sung công quỹ nhà nước:
- 01 Điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xanh, số Imel: 353904108491420, điện thoại bị vỡ và bong kính lưng mặt sau, điện thoại gắn sim thu giữ của Trịnh Đình G, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
- 01 Điện thoại di động Iphone Xs, màu đen số Imel: 356167099056084, điện thoại gắn sim thu giữ của Vũ Huy T, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ: Khoản 1 Điều 255, Điều 17; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 - BLHS (đối với Trịnh Đình G và Vũ Huy T).
Khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đình G và Vũ Huy T phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt:
- Bị cáo Trịnh Đình G 32 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/01/2025.
- Bị cáo Vũ Huy T 30 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/01/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 Chai nhựa màu trắng, thân chai đục lỗ gắn ống nhựa, 01 bật lửa ga, 02 mảnh giấy bạc vo tròn;
Tịch thu phát mãi sung công quỹ nhà nước:
- 01 Điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, màu xanh, số Imel: 353904108491420, điện thoại bị vỡ và bong kính lưng mặt sau, điện thoại gắn sim thu giữ của Trịnh Đình G, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
- 01 Điện thoại di động Iphone Xs, màu đen số Imel: 356167099056084, điện thoại gắn sim thu giữ của Vũ Huy T, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố T, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 115/2025/THA ngày 08/5/2025 giữa Công an T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Đình G và Vũ Huy T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Thị Hà |
Bản án số 224/2025/HSST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 224/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
