Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 224/2025/DS-PT

Ngày 10-4-2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

và yêu cầu chấm dứt hành vi trái

pháp luật

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Cường.

Các Thẩm phán:Ông Phan Trí Dũng;

Bà Trần Thị Thắm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 534/2024/TLPT-DS ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 161/2025/QĐ-PT ngày 25/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 214/2025/QĐ-PT ngày 25/3/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Á, sinh năm 1966; địa chỉ: tổ C, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Ngô Thanh T, sinh năm 1995; địa chỉ thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ liên hệ: số B, tổ A, khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (theo Văn bản ủy quyền ngày 10/4/2023); có mặt.

  1. Bị đơn: Ông Phan Văn Thanh P, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ C, khu phố E, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.
  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Trịnh Phục M, chức

2

vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

  1. Bà Trần Thị Bích T1, sinh năm 1964; địa chỉ: số B, đường số I, tổ F, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
  2. Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1969;
  3. Bà Đỗ Phương V, sinh năm 1993;
  4. Bà Đỗ Thị Mỹ H1, sinh năm 1997;

Cùng địa chỉ: số H, tổ C, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; ông H, bà V, bà H1 có đơn xin giải quyết vắng mặt.

  1. Ông Ung Tấn N, sinh năm 1960; địa chỉ: số F, tổ C, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965;
  3. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1960;

Cùng địa chỉ: số F, tổ C, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; bà Đ, ông T2 có đơn xin giải quyết vắng mặt.

  1. Người kháng cáo: Bà Trần Thị Bích T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2023 của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Á (gọi tắt là bà Á) và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Năm 1990, cha chồng bà Á là ông Đỗ Văn Đ1 tặng cho chồng bà Á là ông Đỗ Văn H quyền sử dụng đất tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Ngày 15/5/2006, ông Đỗ Văn H được Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa AÐ 799961, số vào sổ cấp H00242 mang tên Đỗ Văn H. Khoảng năm 1990, gia đình bà Á có xây dựng 01 căn nhà cấp 4 trên đất và sinh sống ổn định trên đất, không ai tranh chấp. Phần đất này tiếp giáp với đất của ông Ung Tấn N và bà Nguyễn Thị Đ. Do phần đất của chồng bà Á là hộ cuối hẻm, không có đường đi nên ông Ung Tấn N và bà Nguyễn Thị Đ có cho gia đình bà Á 01 phần đất diện tích khoảng 30m² (ông Ung Tấn N cho khoảng 23,4m², bà Nguyễn Thị Đ cho khoảng 6,6m²) để gia đình bà Á có lối đi thuận tiện vào đất, gia đình bà Á lấy phần đất này làm lối đi riêng của mình, vì ngoài gia đình bà Á thì không có ai sử dụng lối đi này.

Năm 2015, ông Phan Văn Thanh P nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Ung Tấn N, phần đất ông N trước đó đã có ranh giới mốc và bờ tường bao quanh, ông P trở thành chủ sử dụng thửa đất liên ranh. Tháng 12 năm 2022, gia đình bà Á thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình và thống nhất để bà Á đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 18/01/2023, bà Á được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 636031, số vào sổ cấp CS25155 đối với thửa đất số 646, tờ bản đồ số 01, diện tích 5.206,1m² tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 799961, số vào sổ H00242 ngày 15/5/2006 mang tên

3

ông H thì gia đình bà Á đã sử dụng phần đất tranh chấp từ trước đó đến nay. Tuy nhiên, sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình bà Á phát hiện còn thiếu phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà gia đình bà Á đã và đang sử dụng có diện tích khoảng 34m².

Do đó, bà Á liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xin cấp mới đối với phần đất trên để cập nhật vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Á thì ông P không đồng ý, vì cho rằng phần đất mà bà Á yêu cầu cấp giấy lối đi chung của cả gia đình ông P nên gây khó khăn, cản trở không cho đo đạc đất. Bà Á làm đơn đề nghị giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã (nay là thành phố) B nhưng không thành. Vì vậy, bà Á khởi liện yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận phần đất có diện tích 50m² tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương cho gia đình bà Á. Sau khi đo đạc thực tế theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 5-2024 ngày 08/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã B thì phần đất bà Á yêu cầu có diện tích 64,0m². Do vậy, ngày 01/7/2024, bà Á làm đơn khởi kiện bổ sung đối với phần diện tích đất tăng thêm và yêu cầu buộc ông Phan Văn Thanh P phải chấm dứt hành vi trái pháp luật về việc cản trở không cho bà Á đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 64m². Theo Biên bản định giá ngày 12/12/2023, nguyên đơn bà Á thống nhất không yêu cầu định giá lại và thống nhất với M1 trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 5-2024 ngày 08/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố) B.

* Tại Bản tự khai ngày 15/11/2023 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Văn Thanh P (gọi tắt là ông P) trình bày:

Khoảng năm 2020, bà Huỳnh Thị Á có yêu cầu ông Phan Văn Thanh P đồng thuận để phần diện tích bà Á đang tranh chấp cho bà Á sử dụng riêng và hứa cho ông P cùng sử dụng phần đất này, nhưng ông P không đồng ý, vì các lý do: đường đi hiện hữu trước đây do ông Ung Văn C canh tác và sử dụng, có nguồn gốc khai phá từ năm 1975, thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại phường M. Ông C được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 565830, số vào sổ 01545/QSDĐ/9539/QĐ-UB ngày 30/11/2004, ông Ung Văn C tạo điều kiện cho gia đình ông P và các hộ dân đi lại cho thuận tiện như hình vẽ mà ông P trình bày tại Bản tự khai đề ngày 15/11/2023.

Bà Nguyễn Thị Đ được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa W 827116, số vào sổ 00024/QSDĐ/648/QĐ-UB ngày 12/3/2003 đối với thửa đất số 86 và 87 theo Trích lục bản đồ địa chính thể hiện rõ ranh đất của bà Đ tiếp giáp với một phần diện tích đất của thửa đất số 90. Đối với thửa đất số 86 và 87, vào khoảng năm 2005, bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Văn T2 đã tách thửa bán cho nhiều người. Riêng thửa đất số 87, bà Đ bán cho bà Trần Thị Bích T1 ngày 12/8/2008. Đến năm 2019, bà T1 làm thủ tục đo đạc đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình bà Huỳnh Thị Á yêu cầu bà T1 chừa lại một phần diện tích đất để làm đường đi rộng thêm thì bà Á mới chịu ký liên ranh. Tuy nhiên, sau đó bà Á lại nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố) Bến Cát để yêu cầu đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này cho bà Á nên ông P, bà T1 và các người con của ông Ung Văn C không đồng ý.

Năm 2021, bà Á nhờ bà Đ và ông Trần Văn T2 xác nhận việc có cho đất làm đường đi. Tuy nhiên, phần đất này gia đình bà Đ đã chuyển nhượng cho bà T1 từ năm 2008, trong khi đó lại xác nhận cho bà Á vào năm 2021 là không đúng. Đối với đơn

4

xác nhận của ông Ung Tấn N, bà Á lợi dụng ông N say rượu nên đưa cho ông N ký tại nhà của ông Nguyễn Văn D nên khi vợ ông N là bà T3 biết được đã phản đối việc ông N xác nhận đơn cho bà Á. Các người con của ông Ung Văn C cũng không đồng ý cho bà Á sử dụng riêng con đường này, vì trước đây gia đình chừa lại để đi chung nên không có ai được cấp giấy chứng nhận.

Bị đơn ông P thống nhất với Biên bản định giá ngày 12/12/2023, không yêu cầu định giá lại và thống nhất với M1 trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 5-2024 ngày 08/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố) B. Trước yêu cầu khởi kiện của bà Á, ông P không đồng ý vì phần đất tranh chấp mà bà Á yêu cầu được làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được sử dụng làm lối đi chung.

* Tại Biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích T1 (gọi tắt là bà T1) trình bày:

Bà T1 là chủ sử dụng thửa đất số 87, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại phường M, thành phố B và là hàng xóm với bà Á, ông P. Đất của bà T1 giáp đất của ông P và bà Á. Nguồn gốc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 01 là do bà T1 nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn T2 và bà Nguyễn Thị Đ vào năm 2007. Ngày 19/11/2020, bà T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS21478 đứng tên bà T1. Đất của bà T1 từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, có tứ cận ranh mốc rõ ràng. Bà T1 đã được xem Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý số 5-2024 ngày 08/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố) Bến Cát lập, bà T1 không có ý kiến. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Á về việc yêu cầu công nhận diện tích đất 50m² (theo đo đạc thực tế 64,0m² ) cho bà Á, bà T1 có ý kiến như sau: phần đất này từ trước tới nay là lối đi cho các hộ dân, bà T1 đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết, bà T1 không có yêu cầu gì trong vụ án này.

* Tại Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ung Tấn N (gọi tắt là ông N) trình bày:

Ông N có cho gia đình bà Huỳnh Thị Á 01 phần đất có chiều ngang khoảng 1,8m (tổng diện tích khoảng 23,4m² tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương). Ông N xác định đã cho gia đình bà Á gần 30 năm, phần đất này gia đình bà Á đã quản lý, sử dụng làm lối đi riêng từ xưa đến nay. Ngoài gia đình bà Á thì không có ai đi lại hay sử dụng phần đất này. Ông N xác nhận cho gia đình bà Á đất là đúng và không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án.

* Tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ (gọi tắt là bà Đ) và ông Trần Văn T2 (gọi tắt là ông T2) trình bày:

Trước đây, gia đình bà Á không có lối đi vào đất nên ông Ung Văn N1 có cho riêng gia đình bà Á 01 phần đất có chiều ngang 1,8m (tổng diện tích khoảng 23,4m²) tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương để làm lối đi riêng. Sau đó, gia đình bà Đ, ông T2 thấy đường đi vào nhà bà Á chỉ có 1,8m nên hơi hẹp, bị sạt lở nhiều và khó di chuyển nên bà Đ, ông T2 có cho gia đình bà Á 01 phần đất có chiều ngang 1,2m (tổng diện tích khoảng 6,6m²) tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương được khoảng 20 năm. Phần đất này, gia đình bà Á sử dụng làm lối đi riêng và quản lý, sử dụng ổn định không có ai tranh chấp; ngoài gia đình bà Á thì không ai sử dụng phần đất này. Khoảng năm 2009, bà Đ và ông T2 bán đất cho bà Trần Thị Bích T1, nhưng vẫn chừa lại phần đất diện tích 6,6m² mà bà Đ,

5

ông T2 đã cho gia đình bà Á để làm đường đi. Bà Đ và ông T2 xác định không có tranh chấp gì trong vụ án.

* Tại Văn bản trình bày ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương trình bày:

Việc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân nếu đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 99, Điều 100 và Điều 101 của Luật Đất đai năm 2013 và các quy định khác có liên quan thì Ủy ban nhân dân thành phố B đề nghị công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát đối chiếu quy định nêu trên để nhận định trong quá trình xét xử.

* Tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn H (gọi tắt là ông H) trình bày:

Năm 1990, cha ruột ông H là ông Đỗ Văn Đ1 có tặng cho ông H quyền sử dụng đất tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ngày 15/5/2006, ông H được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa AÐ 799961, số vào sổ H00242 mang tên hộ ông Đỗ Văn H. Từ năm 1990, ông H cùng vợ là bà Huỳnh Thị Á có xây dựng căn nhà cấp 04 trên đất và có trồng cây sung vào khoảng năm 2006 để sinh sống ổn định cùng 02 con gái là bà Đỗ Phương V và Đỗ Thị Mỹ H1 cho đến nay. Phần đất gia đình ông H tiếp giáp đất của ông Ung Tấn N và bà Nguyễn Thị Đ. Do đất của gia đình ông H không có đường đi nên ông Ung Tấn N có cho riêng gia đình ông H 01 phần đất chiều ngang 1,8m (tổng diện tích khoảng 23,4m²) tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương để làm lối đi riêng gần 30 năm. Sau đó, gia đình ông H đi trên phần đất ông Ung Tấn N cho, nhưng do đường đi chỉ rộng 1,8m hơi hẹp, nhấp nhô, bị sạt lở nhiều và khó di chuyển nên bà Nguyễn Thị Đ, ông Trần Văn T2 có cho thêm gia đình ông H phần đất có chiều ngang 1,2m (tổng diện tích khoảng 6,6m²) tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương để làm lối đi riêng hơn 20 năm. Phần đất ông Ung Tấn N, bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Văn T2 cho gia đình ông H có diện tích khoảng 30m², gia đình ông H sử dụng làm lối đi riêng và quản lý, sử dụng ổn định cho đến nay không có tranh chấp. Ngoài gia đình ông H thì không có ai đi lại hay sử dụng phần đất này.

Năm 2015, ông Phan Văn Thanh P nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Ung Tấn N, đất của ông N trước đó đã có ranh giới và bờ tường xung quanh. Vì vậy, sau khi nhận chuyển nhượng thì ông P cũng quản lý, sử dụng phần đất ông N chuyển nhượng và trở thành người liên ranh với đất của ông H. Đến tháng 12 năm 2022, gia đình ông H thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình, thống nhất để toàn bộ tài sản này cho bà Huỳnh Thị Á (vợ ông H) đứng tên. Ngày 18/01/2023, bà Á được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa DI 636031, số vào sổ số CS25155 đối với thửa đất số 646, tờ bản đồ số 01, diện tích 5.206,1m² tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông H mới phát hiện còn thiếu phần đất đường đi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất có tổng diện tích khoảng 64m² gồm 01 phần diện tích gia đình ông H đã và đang quản lý, sử dụng là khoảng 34m² (phần đất này có trồng cây sung vào năm 2006 và nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ số AÐ 799961); 01 phần có diện tích khoảng 30m² do ông Ung Tấn N, bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Văn T2 cho.

6

Khi bà Á liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xin cấp mới giấy chứng nhận đối với phần đất này nhằm cập nhật vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Á thì ông Phan Văn Thanh P không đồng ý, cản trở không cho đo đạc, kê khai đăng ký và còn đòi chặt cây sung của gia đình ông H, vì cho rằng: đây là lối đi chung. Ông H vô cùng bức xúc về hành vi của ông P, vì phần đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông H dùng để làm lối đi riêng. Từ trước đến nay, chỉ có gia đình ông H đi trên phần đất này nên không thể nào nói đây là lối đi chung. Sau đó, bà Á làm đơn đề nghị giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã (nay là thành phố) B. Lúc 14 giờ 00 phút ngày 30/3/2023, tại phòng họp Đảng ủy phường M, Hội đồng hòa giải tranh chấp đất tiến hành hòa giải giữa bà Á với ông P. Tại đây, ông P yêu cầu bà Á xin cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất này phải làm lối đi chung cho các hộ xung quanh và yêu cầu bà Á phải cắt bỏ cây sung, nhưng bà Á không đồng ý. Mặt khác, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân phường M, nhưng Biên bản hòa giải ngày 30/3/2023 lại cho rằng: “Phần đất của bà Á kiến nghị cập nhật vào giấy chứng nhận QSDĐ có diện tích khoảng 50m² là lối đi vào nhà của bà Á, xung quanh có tường rào cố định của các hộ dân. Do đó phần diện tích bà Á xin cập nhật vào giấy chứng nhận QSDĐ là không có cơ sở xem xét, giải quyết” là không đúng với quy định của pháp luật. Vì vậy, bà Á làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận cho bà Á được toàn quyền sở hữu, quản lý và sử dụng đối với phần đất diện tích 64m², tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương và yêu cầu ông Phan Văn Thanh P phải chấm dứt hành vi trái pháp luật về việc cản trở không cho bà Á đo đạc, đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nói trên. Đối với yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà Á, ông H đồng ý.

* Tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Phương V (gọi tắt là bà V) và bà Đỗ Thị Mỹ H1 (gọi tắt là bà H1) thống nhất trình bày:

Năm 1990, cha ruột của ông Đỗ Văn H là ông Đỗ Văn Đ1 có tặng cho ông H quyền sử dụng đất tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ngày 15/5/2006, ông H được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa AÐ 799961, số vào sổ H00242 mang tên hộ ông Đỗ Văn H. Từ năm 1990, ông H cùng vợ là bà Huỳnh Thị Á xây dựng căn nhà cấp 04 trên đất, trồng cây sung vào khoảng năm 2006 và sinh sống cùng bà V, bà H1 cho đến nay. Phần đất của gia đình bà H1, bà V tiếp giáp với đất ông Ung Tấn N và bà Nguyễn Thị Đ. Do đất của gia đình bà H1, bà V không có đường đi nên ông Ung Tấn N có cho riêng gia đình 01 phần đất chiều ngang 1,8m (diện tích khoảng 23,4m²) tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã (nay là thành phố) B để làm lối đi riêng được gần 30 năm, không ai được quyền đi trên phần đất này. Do lối đi chỉ có chiều ngang 1,8m hơi hẹp, nhấp nhô, bị sạt lở và khó di chuyển nên bà Nguyễn Thị Đ, ông Trần Văn T2 có cho thêm gia đình bà H1, bà V phần đất chiều ngang 1,2m (diện tích khoảng 6,6m²) tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương để làm lối đi được khoảng 20 năm. Phần đất ông Ung Tấn N, bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Văn T2 cho có diện tích khoảng 30m², gia đình bà H1, bà V dùng làm lối đi riêng và quản lý, sử dụng ổn định cho đến nay không có tranh chấp. Ngoài gia đình bà H1, bà V thì không có ai đi lại hay sử dụng phần đất này.

Năm 2015, ông Phan Văn Thanh P nhận chuyển nhượng đất từ ông Ung Tấn N, phần đất ông N chuyển nhượng trước đó đã có mốc ranh giới và bờ tường xung quanh.

7

Vì vậy, khi nhận chuyển nhượng thì ông P chỉ quản lý phần đất của ông N chuyển nhượng và trở thành người liên ranh. Tháng 12 năm 2022, gia đình bà H1, bà V thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ, thống nhất để toàn bộ tài sản này cho bà Huỳnh Thị Á đứng tên. Ngày 18/01/2023, bà Á được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 636031, số vào sổ CS25155 đối với thửa đất số 646, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã (nay là thành phố) Bến Cát với diện tích 5.206,1m². Tuy nhiên, sau khi được cấp giấy, gia đình mới phát hiện còn thiếu phần đất diện tích khoảng 64m², gồm 01 phần diện tích đã và đang quản lý, sử dụng là khoảng 34m² (phần đất này có trồng cây sung vào năm 2006 và nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ số AÐ 799961); 01 phần đất có diện tích khoảng 30m² do ông Ung Tấn N, bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Văn T2 cho, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi bà Á liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xin cấp mới phần đất này để cập nhật vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Á, thì ông P không đồng ý và có hành vi cản trở không cho bà Á đo đạc, đăng ký, kê khai cấp giấy và còn đòi chặt cây sung vì cho rằng đây là lối đi chung. Gia đình vô cùng bức xúc về hành vi này của ông P, vì phần đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình và dùng làm lối đi riêng đất của gia đình. Sau đó, bà Á làm đơn đề nghị giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân phường M. Lúc 14 giờ ngày 30/3/2023, Hội đồng hòa giải tiến hành hòa giải, nhưng ông P yêu cầu bà Á phải cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này phải làm lối đi chung cho các hộ xung quanh, phải cắt bỏ cây sung nên bà Á không đồng ý. Đồng thời, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân phường M, nhưng Biên bản hòa giải ngày 30/3/2023 lại cho rằng: “Phần đất của bà Á kiến nghị cập nhật vào giấy chứng nhận QSDĐ có diện tích khoảng 50m² là lối đi vào nhà của bà A, xung quanh có tường rào cố định của các hộ dân. Do đó phần diện tích bà Á xin cập nhật vào giấy chứng nhận QSDĐ là không có cơ sở xem xét, giải quyết” là không đúng quy định pháp luật. Vì vậy, bà Á khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận quyền sử dụng đất diện tích 64m², tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương cho bà Á được toàn quyền quản lý và sử dụng, giá trị tạm tính là 13.000.000 đồng và yêu cầu ông P chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật trong việc cản trở không cho bà Á đo đạc, đăng ký, kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên. Đối với yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà Á thì bà V, bà H1 đồng ý.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 229, 244, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 169 của Bộ luật Dân sự; khoản 10 Điều 11, khoản 33 Điều 33, Điều 26 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024; các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Á đối với bị đơn ông Phan Văn Thanh P về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”.

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Á được quyền quản lý, sử dụng và đăng ký kê khai để được cấp đối với diện tích đất 64,0m² (từ điểm 13' đến điểm 17, 16', 15', 15, 14, 14' theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 5-2024 ngày 08/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương).

8

(Kèm theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 5-2024 ngày 08/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương).

Buộc bị đơn ông Phan Văn Thanh P phải chấm dứt hành vi cản trở nguyên đơn bà Huỳnh Thị Á trong việc thực hiện các quyền hợp pháp của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Á không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị Á số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số AA/2021/0011136 ngày 26/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Bến C1 và số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000553 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn ông Phan Văn Thanh P phải chịu 300.000 đồng.

  1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá và sao lục hồ sơ: số tiền 7.021.346 đồng, nguyên đơn đã đóng tạm ứng trước đó, bị đơn có trách nhiệm hoàn trả số này cho nguyên đơn.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 16/9/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích T1 nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm vì cho rằng phần đất tranh chấp trên là lối đi chung, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không công nhận quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị Ánh .

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị Bích T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới và các bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy: Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Á là có căn cứ, bà Trần Thị Bích T1 kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về kiến nghị khắc phục thiếu sót: không.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến trình bày của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình

9

Dương theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích T1 được thực hiện trong thời hạn luật định và người kháng cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000940 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương nên hợp lệ.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Á (gọi tắt là bà Á) và yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Bích T1 (gọi tắt là bà T1), nhận thấy: bà Á là chủ sử dụng diện tích đất 5.206,1m² thuộc thửa đất số 646, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa DI 636031, số vào sổ CS25155 ngày 18/01/2023 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Huỳnh Thị Á (bút lục 238). Nguồn gốc đất trên theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và theo xác định của ông Đỗ Văn H, bà Huỳnh Thị Á, bà Đỗ Phương V và bà Đỗ Thị Mỹ H1 là của ông Đỗ Văn Đ1 (cha ông H) tặng cho ông H từ năm 1990; ngày 15/5/2006, hộ ông Đỗ Văn H được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa AÐ 799961, số vào sổ H00242 đối với thửa đất số 960, tờ bản đồ số 09, diện tích 3.798m² (bút lục 05); ngày 02/12/2022, hộ ông H được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số bìa DI 637047, số vào sổ CS24972 đối với thửa đất số 646, tờ bản đồ số 01, diện tích 5.206,1m², trong đó có 583m² đất hành lang bảo vệ Suối Đồng S (bút lục 239); ngày 23/12/2022, hộ ông H đến Văn phòng C2 lập Văn bản thỏa thuận về quyền sử dụng đất theo đó xác lập tài sản riêng cho bà Á đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bút lục 253-255) nên bà Á được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đất của bà Á có tứ cận: hướng B và Tây giáp Suối Đồng S; hướng Nam giáp các thửa đất số 207, 463, 462, 216, 215, 180, 181, 179, 186, 187, 206 và 87 của bà Nguyễn Thị Đ; Đông giáp thửa đất số 80 (nay là thửa đất số 81) của ông Ung Tấn N (bút lục 252). Như vậy, theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì từ năm 1990 cho đến nay, đất của bà Á không tiếp giáp đường đi nên việc bà Á, ông H, bà V, bà H1 cho rằng: trong phần đất đang tranh chấp diện tích 64m², có một phần diện tích khoảng 34m² đã được gia đình bà Á, ông H quản lý, sử dụng trồng cây sung vào năm 2006 và nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ số bìa AÐ 799961, số vào sổ H00242 ngày 15/5/2006 là không có căn cứ.

[4] Quá trình giải quyết vụ án, bà Huỳnh Thị Á, ông Đỗ Văn H, bà Đỗ Phương V và bà Đỗ Thị Mỹ H1 cho rằng phần đất lối đi theo đo đạc thực tế diện tích 64m² mà hiện nay bà Á đang tranh chấp có nguồn gốc của ông Ung Tấn N cho gia đình ông H chiều ngang 1,8m để sử dụng làm lối đi riêng gần 30 năm, quá trình sử dụng có trồng cây sung vào năm 2006; bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Văn T2 cho thêm chiều ngang 1,2m để sử dụng làm lối đi riêng được khoảng 20 năm, không ai tranh chấp, nhận thấy: theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 5-2024 thì phần đất tranh chấp nằm ở cạnh hướng Đông của đất bà Á và tiếp giáp với thửa đất số 81 và thửa đất số 87, tờ bản đồ số 01 phường M. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01545 QSDĐ/9539/QĐ-UB ngày 30/11/2004 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Ung Văn C thì ông C được cấp các thửa đất số 171, 89, 90, tờ bản đồ số 01 với tổng diện tích 3.431m² (bút lục 160) nên việc ông P cho rằng: đường đi hiện hữu trước đây do

10

ông Ung Văn C canh tác và sử dụng, có nguồn gốc khai phá từ năm 1975, thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01 là không có căn cứ. Xét nguồn gốc đất của ông Phan Văn Thanh P trước đây là của ông Ung Tấn N, được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02611 ngày 13/11/2008, đổi từ giấy chứng nhận số 01395 ngày 23/5/2000 (bút lục 170); do ông N và vợ là bà Lê Thị T3 không có khả năng thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP S2 theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 41/2012/QĐST-DS ngày 19/4/2012 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cát nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cát quyết định bán đấu giá tài sản để thi hành án và ông P là người mua trúng đấu giá theo Biên bản bán đấu giá tài sản số 23/2015 ngày 09/9/2015 (bút lục 180-182, 196); ngày 08/3/2016, ông Phan Văn Thanh P được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS12316 đối với thửa đất số 81, tờ bản đồ số 01, diện tích 964m² (bút lục 168). Theo lời trình bày của ông N và Giấy xác nhận ngày 14/3/2023 (bút lục 31) thì thời điểm này, ông N đã cho gia đình ông H sử dụng phần đất có chiều ngang 1,8m để lối đi riêng nên phần đất này không thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông P. Mặt khác, tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 27/01/2022, có thể hiện phần đất tranh chấp do ông Đỗ Văn H sử dụng, được ông P ký xác nhận ở mục tên chủ đất sử dụng liền kề (bút lục 327) nên việc ông P ngăn cản không cho bà Á quản lý, sử dụng phần đất này là không có căn cứ.

[5] Xét nguồn gốc đất của bà Trần Thị Bích T1, nhận thấy: nguồn gốc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại phường M trước đây là của bà Nguyễn Thị Đ, được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01833 ngày 27/02/2008 với diện tích 555,3m²; ngày 11/7/2008, bà Đ cùng chồng là ông Trần Văn T2 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 685, quyển số 03 để chuyển nhượng lại diện tích đất trên cho bà T1; ngày 12/8/2008, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B đã cập nhật sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Bích T1 (bút lục 226). Đến ngày 19/11/2020, bà T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS21478 với diện tích 648,4m² (bút lục 211). Theo lời trình bày của bà Đ, ông T2 và Đơn xác nhận lối đi riêng ngày 26/6/2021 của bà Đ (bút lục 30) thì thời điểm này, bà Đ và ông T2 đã cho gia đình ông H sử dụng phần đất có chiều ngang 1,2m để làm lối đi riêng nên phần đất này cũng không thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T1.

[6] Mặt khác, tại Biên bản xác minh ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát thì Ủy ban nhân dân phường M cũng xác định: theo Quyết định số 2075/QĐ-UBND ngày 12/10/2020 của Ủy ban nhân dân thị xã B về việc phê duyệt danh mục các tuyến đường do Nhà nước quản lý trên địa bàn thành phố B thì tuyến đường nhà bà Ung Thị S1 - nhà ông Đỗ Văn H (số thứ tự 242 theo Quyết định số 2075) có chiều dài 50m, có điểm đầu nhà bà Ung Thị S1, điểm cuối tiếp giáp phần đất tranh chấp giữa bà Á với ông P (bút lục 297-300), cho thấy: phần đất tranh chấp không thuộc tuyến đường do Nhà nước quản lý mà thuộc quyền sử dụng của gia đình bà Á để làm lối đi ra đường công cộng. Tại Văn bản xác nhận ngày 01/7/2024 và các Biên bản xác minh ngày 09/5/2024, xác định phần đất tranh chấp là do gia đình bà Á sử dụng để làm lối đi từ thửa đất số 646, tờ bản đồ số 01 ra đường công cộng từ xưa đến nay (bút lục 277-281). Tại Văn bản số 04/TNMT-TTĐĐ ngày 03/5/2024 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B xác định “phần diện tích 64,0m² tọa lạc tại khu phố E,

11

phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương không thuộc dự án, quy hoạch nào trên địa bàn thị xã B; đồng thời, theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 thị xã (nay là thành phố) Bến Cát được phê duyệt theo Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 05/01/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh B... thì phần diện tích 64,0m² tọa lạc tại khu phố E, phường M, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương được quy hoạch là đất ở” (bút lục 267). Đồng thời, theo như phân tích tại mục [4] và [5] nêu trên, có căn cứ xác định: nguồn gốc phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 64m² mà bà Á đang tranh chấp là của ông Ung Tấn N, bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Văn T2 cho gia đình bà Á sử dụng để lối đi vào đất, gia đình bà Á đã quản lý, sử dụng ổn định cho đến nay, đủ điều kiện để được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo các Điều 99, 100 và 101 của Luật Đất đai năm 2013. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Á đối với bị đơn ông Phan Văn Thanh P, xác định bà Á được quyền quản lý, sử dụng và đăng ký kê khai đối với diện tích đất 64,0m² (từ điểm 13' đến điểm 17, 16', 15', 15, 14, 14' theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 5-2024 ngày 08/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố) Bến Cát lập là có căn cứ.

[7] Từ những phân tích và lập luận nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Bích T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà T1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích T1, giữ nguyên Bản án số 129/2024/DS-ST ngày 20-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương như sau:

Căn cứ căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 229, 244, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 169 của Bộ luật Dân sự; khoản 10 Điều 11, khoản 33 Điều 33, Điều 26 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024; các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Á đối với bị đơn ông Phan Văn Thanh P về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật”.

Bà Huỳnh Thị Á được quyền quản lý, sử dụng và đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 64,0m² (từ điểm 13' đến điểm 17', 16', 15', 15, 14, 14' theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 5-2024 ngày 08/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương).

12

(Kèm theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 5-2024 ngày 08/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương).

Buộc ông Phan Văn Thanh P phải chấm dứt hành vi cản trở bà Huỳnh Thị Á trong việc thực hiện các quyền hợp pháp của chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị Á không phải chịu. Hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị Á số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0011136 ngày 26/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Bến C1 và số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000553 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Ông Phan Văn Thanh P phải chịu 300.000 đồng.

  1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá và sao lục hồ sơ: số tiền 7.021.346 đồng, bà Huỳnh Thị Á đã đóng tạm ứng trước đó, ông Phan Văn Thanh P có trách nhiệm nộp lại để hoàn trả số này cho bà Huỳnh Thị Ánh .
  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trần Thị Bích T1 phải chịu số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000940 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tổ HCTP, Tòa DS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đắc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2025/DS-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật

  • Số bản án: 224/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger