Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2024/DS-PT

Ngày 15 tháng 11 năm 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

----------

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang và bà Triệu Thị Luyện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Ông Lương Thất Tùng- Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2024/TLPT- DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS- ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 235/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 381/2024/QĐ-PT ngày 05/11/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Phục L, sinh năm 1969 (Có mặt)

Nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông C: Ông Đỗ Viết S, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1977. Do ông Trần Phục L, sinh năm 1969 đại diện theo ủy quyền.

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được xác định như sau:

- Nguyên đơn là ông Trần Phục L trình bày: Do có mối quan hệ cùng cơ quan nên ông L và ông C đã nhiều lần cho nhau vay tiền, lúc chuyển khoản, lúc đưa tiền mặt, những lần vay tiền trước ông C có đưa cho ông L 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0L288883 để làm tin. Đến ngày 14/02/2024 hai bên chốt các lần vay nợ ông C còn nợ ông L số tiền 320.000.000đồng (ba trăm hai mươi triệu đồng). Ông C đã viết giấy biên nhận nợ- vay tiền hẹn ngày 14/4/2024 trả. Khi vay hai bên thoả thuận miệng lãi suất tính theo lãi ngân hàng 10%/1 năm. Đến hẹn ông C không trả tiền cho ông L theo thỏa thuận. Ông L đã nhiều lần đòi nhưng ông C khất nợ không trả. Nay ông L khởi kiện yêu cầu ông C trả số tiền đã vay là 320.000.000 đồng, yêu cầu trả lãi theo lãi suất 10%/1 năm tính từ ngày vay 14/02/2024 đến ngày 14/4/2024 là 6.400.000đồng. Yêu cầu tính lãi từ ngày 15/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm.

- Bị đơn là ông Nguyễn Văn C trình bày. Ông và ông L là chỗ quen biết nhau từ năm 2023, ông C vay của ông L 4 lần tiền mỗi lần 100.000.000 đồng tổng 4 lần vay là 400.000.000 đồng. Khi vay tiền do chỗ quen biết nên không viết giấy tờ vay, chỉ thoả thuận miệng sau đó ông L chuyển khoản cho vay, thời gian vay từng lần cụ thể ông C không nhớ. Sau khi vay ông đã chuyển khoản trả cho ông L nhiều lần được số tiền khoảng 180.000.000đồng. Đến ngày 14/02/2024 ông L và ông chốt nợ, ông còn nợ ông L số tiền 220.000.000 đồng đồng thời ông hỏi vay ông L thêm 100.000.000 đồng để giải quyết việc gia đình. Ông L không đưa tiền mặt mà bảo cứ viết giấy ghi vay 320.000.000 đồng, sau sẽ chuyển khoản cho vay sau. Do tin tưởng ông L sẽ chuyển khoản cho vay thêm 100.000.000 đồng nên ông đã viết ghi ngày 14/02/2024 vay 320.000.000 đồng. Sau đó ông không thấy ông L chuyển tiền cho ông vay như thoả thuận. Ông có gọi điện giục chuyển nhưng vẫn không thấy ông L chuyển cho ông vay thêm. Nay ông L kiện đòi ông số tiền vay 320.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi theo mức lãi 10%/1 năm tính từ ngày 15/04/2024 đến nay. Về số tiền 320.000.000đồng ông C không đồng ý trả, vì chỉ ông nợ 220.000.000 đồng nên đồng ý trả 220.000.000 đồng. Còn 100.000.000 đồng trong giấy vay ngày 14/02/2024 ông chưa được ông L chuyển tiền cho vay nên không đồng ý trả. Về tiền lãi ông không đồng ý trả vì trong giấy vay không thoả thuận lãi suất.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị T là vợ ông Trần Phục L trình bày: Về số tiền ông L cho ông C vay 320.000.000 đồng đây là tiền ông L vay của bạn ông L, không phải tiền của vợ chồng bà nên bà không liên quan đến số tiền này.

Với nội dung trên, bản án dân sự số 34/2024/DS- ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên đã quyết định:

1. Về điều luật: Áp dụng Khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 271; Điều 273; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 463; Điều 466; Điều 357; khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử.

2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phục L;

Buộc ông Nguyễn Văn C trả cho ông Trần Phục L số tiền 330.667.000đ (ba trăm ba mươi triệu sáu trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng); trong đó tiền gốc 320.000.000đ (ba trăm hai mươi triệu đồng) tiền lãi tính từ ngày 15/4/2024 đến ngày 15/8/2024 là 10.667.000đồng (mười triệu sáu trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 26/8/2024/2024, bị đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án theo hướng buộc bị đơn phải trả nguyên đơn số tiền 220.000.000 đồng và lãi suất theo quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Phục L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Nguyễn Văn C do ông Đỗ Viết S đại diện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 35/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí DSPT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, HĐXX thấy:

Về nội dung vụ án: Ông Trần Phục L yêu cầu ông Nguyễn Văn C trả số tiền vay 320.000.000 đồng theo giấy nhận nợ- vay tiền ngày 13/02/2024 và yêu cầu trả lãi theo lãi suất 10%/ năm tính từ ngày 15/4/2024 đến ngày 15/8/2024.

Theo lời trình bày của ông Trần Phục L và ông Nguyễn Văn C xác định được nhiều lần ông L cho ông C vay tiền. Đến ngày 14/02/2024 hai bên đã viết giấy nhận nợ- vay tiền với số tiền là 320.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận miệng bên ngoài, thời hạn vay 02 tháng, mục đích vay dùng vào việc kinh doanh. Đến hạn trả nợ ông C không trả tiền cho ông L.

Ông C cho rằng đến ngày 14/02/2024 hai bên chốt các khoản nợ ông C còn nợ 220.000.000 đồng, có hỏi vay thêm ông L 100.000.000 đồng. Do tin tưởng bạn bè nên ông C đã viết giấy nợ số tiền 320.000.000 đồng nhưng thực tế chỉ nợ 220.000.000 đồng còn 100.000.000 đồng sau đó ông L không chuyển khoản cho vay. Phía ông L khẳng định khi chốt các khoản nợ thì ông C còn nợ ông số tiền 320.000.000 đồng, không có việc ông C hỏi vay thêm 100.000.000 đồng như ông C đã trình bày.

Ông C không cung cấp được chứng cứ chứng minh chỉ còn nợ ông L số tiền 220.000.000 đồng, còn số tiền 100.000.000 đồng hỏi vay nhưng ông L chưa chuyển khoản. Ông C là người trực tiếp viết giấy và ký nhận nợ số tiền 320.000.000 đồng. Ông C là người đủ năng lực hành vi dân sự, khi viết và ký giấy nhận nợ không bị lừa dối hay bị ép buộc. Ông L khởi kiện yêu cầu ông C trả số tiền gốc 320.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự. Cần buộc ông Nguyễn Văn C phải trả ông Trần Phục L số tiền gốc còn nợ là 320.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu trả tiền lãi thì thấy: Do hai bên không thoả thuận tiền lãi, tuy nhiên các bên có thoả thuận thời hạn trả là ngày 14/4/2024. Đến hạn nhưng ông C không trả tiền cho ông L nên xác định ông C đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Ông L yêu cầu tính lãi từ ngày 15/4/2024 đến ngày xét xử sơ thâm 15/8/2024 với lãi suất 10%/năm là 10.667.000 đồng. Mức lãi suất ông L yêu cầu không vượt quá mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự. Do đó, cần buộc ông Nguyễn Văn C phải trả ông Trần Phục L số tiền lãi là 10.667.000 đồng.

Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông Nguyễn Văn C có nghĩa vụ trả cho ông Trần Phục L số tiền gốc 320.000.000 đồng và tiền lãi 10.667.000 đồng là có căn cứ.

Ông C kháng cáo bản án, không đồng ý về việc bản án buộc ông trả cho ông L cả số tiền 320.000.000 đồng, ông chỉ đồng ý trả số tiền gốc 220.000.000 đồng là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2024/DS- ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[2]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 35/2024/DSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0007020 ngày 24/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Toà án nhân dân huyện Tân Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Chuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/DS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 224/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger