|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 224/2024/HS-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Ngày 14 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Liên
Ông Lê Huỳnh Sinh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2024/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Dương Văn S (tên gọi khác Cu cá lóc), sinh năm 1989 tại Ninh Thuận; nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, TP .- T, tỉnh Nình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương M, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1972; Tiền sự: Không;
Tiền án:
- Ngày 21/12/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Phan Rang - T xử phạt 16 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2008.
- Ngày 23/3/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xử phạt 15 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/3/2011.
- Ngày 06/5/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Bác Ái xử phạt 03 năm tù về “Tội cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2014.
- Ngày 13/12/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xử phạt 03 năm 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2018.
- Ngày 12/6/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xử phạt 04 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/12/2023.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T3- T; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Lê Xuân T, sinh năm 2002 tại Ninh Thuận; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Q, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1984;
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T3- T; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị Kim N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khu phố D, P, N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
Nguyễn Khải H1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Nguyễn Khải H1, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 12/5/2024, Dương Văn S đi vào thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy đá. Tại đây, S gặp một người đàn ông tên T1 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) mua 2.500.000 đồng ma túy đá. Khi có được ma túy, S đón xe khách, đem ma túy vừa mua được về nhà tại thành phố P - T, cất giấu để sử dụng dần. Khoảng 10 giờ ngày 14/5/2024, bạn của S là Lê Xuân T sử dụng tài khoản Zalo tên “Xuân Tài” liên hệ với S qua tài khoản Zalo “Sơn Lóc” rồi thỏa thuận góp 200.000 đồng để được sử dụng chung ma túy. S đồng ý và bảo T đến nhà S để sử dụng chung. Đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, T đến nhà S ở số D đường N, thuộc khu phố B, phường Đ, TP . -T. Tại đây, S chuẩn bị sẵn 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy được làm bằng 01 chai nhựa, có nắp màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu cam và một lỗ 01 nỏ thủy tinh. S lấy 01 bịch ma túy ra cắt và đổ vào nỏ thủy tinh (ký hiệu M2), dùng hộp quẹt đốt hút hơi đầu tiên rồi đưa cho T hút. S và T cùng nhau sử dụng khoảng 5 phút thì S gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Khải H1 đến cùng sử dụng. Khoảng 15 phút sau, H1 đến nhà S, khi vừa vào trong nhà thì bị Công an đến kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang S và T đang sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng ngủ của S. Khi kiểm tra Công an phát hiện và tạm giữ 07 bịch nylon màu trắng được hàn kín các đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được cất giấu trên kệ đựng dụng cụ nhà bếp của S. S khai nhận số ma túy trên là ma túy đá, S cất dấu để sử dụng dần. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật và mời những người liên quan về trụ sở Công an làm việc.
Tại Bản Kết luận giám định chất ma túy số 124/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:
Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng của mẫu gửi giám định là: M1 có khối lượng 1,2481g; M2 có khối lượng: 0,0372g;
Hoàn trả đối tượng sau giám định: Khối lượng mẫu vật còn lại sau giám định M1 là 1,1584g; M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định, trả lại mẫu vật cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo S, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Dương Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Điểm o Khoản 2 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn S từ 06 năm đến 07 năm tù;
Đh Khoản 2 Điều 255, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Văn S từ 07 năm đến 08 năm tù;
Khoản 1 Điều 255, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Các Bị cáo không tranh luận và đồng ý với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Các Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố T3 – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 40 phút ngày14/5/2024, tại nhà của Dương Văn S, ở số D đường N, thuộc Khu phố B, phường Đ, TP . -T, các bị cáo Dương Văn S và Lê Xuân Tài đang tổ chức cho nhau cùng sử dụng trái phép ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an bắt quả tang. Đồng thời khám xét nhà Dương Văn S, phát hiện S đang tàng trữ trái phép 1,2853 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo Dương Văn S đang có tiền án thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên lần phạm tội này của bị cáo S thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Vì vậy, Cáo trạng số: 170/CT-VKSPR ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Dương Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm o Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm h Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Do đó, phải xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:
Bị cáo Dương Văn S có nhân thân xấu, có nhiều tiền án; riêng bị cáo T có nhân thân tốt thể hiện qua việc bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Các Bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình; tình tiết này được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về biện pháp tư pháp:
- Đối với 02 đĩa CD có ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị can Dương Văn S và Lê Xuân T được lưu cùng hồ sơ vụ án
- Đối với 200.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu vàng, có gắn sim số 0357454167 là tài sản, phương tiện của Lê XuânTài dùng làm phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng và 01 điện thoại di động; tịch thu tiêu hủy sim số 0357454167 là có căn cứ.
- Đối với 01 gói niêm phong bên trong có 1,1584g ma túy loại Methamphetamine, 01 nỏ thủy tinh bị vỡ, gãy là mẫu vật còn lại sau giám định. Đây là chất ma túy, vật cấm tàng trữ, là dụng cụ sử dụng ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 hộp quẹt ga màu trắng; 01 chai nhựa gắn nắp màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu cam và 01 bình gas. Đây là bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.
- Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 xe mô tô hiệu RAIDER biển số 85D1-68705, 01 xe mô tô hiệu Wave biển số 85C1 – 503.20 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia; do các tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe môtô hiệu RAIDER cho chủ sở hữu Lê Xuân T, trả lại xe môtô hiệu Wave cho Nguyễn Khải H1 và trả lại điện thoại di động hiệu Nokia cho Dương Văn S là có căn cứ
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu SamSung A32 màu xanh, là tài sản của bà Lê Thị Kim N. Bị cáo S mượn để nhắn tin với T để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Khi N cho bị cáo S mượn, N không biết S dùng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho bà N là phù hợp.
[6] Đối với một người tên T1 ở Quận H, TP . đã bán ma túy cho S; quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi và địa chỉ cụ thể. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và đề nghị xử lý sau là phù hợp.
Đối với Nguyễn Khải H1 là người được S rủ đến sử dụng ma túy nhưng chưa sử dụng. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra xét nghiệm nước tiểu phát hiện H1 sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 12/5/2024 tại TP . nên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với H1 là phù hợp.
[7] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào Điểm o Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn S (Cu cá lóc) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Văn S 06 (Sáu) năm 06 (S1) tháng tù.
Căn cứ vào Điểm h Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn S (Cu cá lóc) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Văn S 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù.
- Tổng hợp hình phạt:
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật hình sự.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Dương Văn S (Cu cá lóc) chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 5 năm 2024.
-
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 5 năm 2024.
-
Biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên tịch thu, tiêu hủy:
01 gói niêm phong của Phòng K Công an tỉnh N; bên trong có 1,1584g ma túy loại Methamphetamine, 01 nỏ thủy tinh bị vỡ cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; bên ngoài có hình con dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh N, có chữ kí và ghi tên Nguyễn Nghi A, Lê Đình L1, Đinh Quang T2 và Mai Văn V.
01 hộp quẹt ga màu trắng; 01 chai nhựa gắn nắp màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút màu cam; 01 bình gas mini và sim số 0357454167.
- Tuyên tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước:
01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI 35379808844666; số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đông).
Vật chứng, đồ vật tài sản nêu trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T đang quản lý theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T3 – T và Chi cục Thi án dân sự thành phố P – T.
Đối với số tiền 200.000 đồng theo Ủy nhiệm chi số 28 ngày 28/8/2024 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Ninh Thuận.
- Lưu cùng hồ sơ vụ án:
02 đĩa CD có ghi âm, ghi hình khi hỏi cung các bị cáo Dương Văn S và Lê Xuân T.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Dương Văn S, Lê Xuân T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm có mặt các bị cáo, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyên Vy |
Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về hình sự
- Số bản án: 224/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sơn
