|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 224/2024/HSST Ngày: 14 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Tấn Đức;
- Bà Lê Thị Sao.
Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Phan Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 213/2024/HSST ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Hồ Thị Y; sinh năm 1964, tại: TP . ;
Nơi đăng ký NKTT: không; chổ ở hiện nay: B V, phường P, quận T, TP .; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 01/12; giới tính: Nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T, sinh năm 1937 và bà Võ Thị Bạch M (chết); Chồng: Nguyễn Bá T1, sinh năm 1963, con: 03 người (lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1989).
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam ngày 29/05/2018. Ngày 07/06/2018 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 29/02/2024 bị bắt theo Quyết định truy nã. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T4) Công an T5 và có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1970; trú tại: 1 L, phường I, quận T, TP . (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Huỳnh Minh D, sinh năm 1976; trú tại: I Â, phường P, quận T, TP (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc M1, sinh năm 1964; trú tại: E N, phường A, quận F, TP . (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc Ẩ, sinh năm 1952; trú tại: E Â, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1963; trú tại: E Â, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Ông Huỳnh Văn M2, sinh năm 1959; trú tại: 2 N, phường P, quận T, TP (Vắng mặt).
- Bà Trần Thị Lan Đ, sinh năm 1964; trú tại: 2 N, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Xuân B, sinh năm 1986; trú tại: 1 N, phường A, quận H, TP . (Vắng mặt).
- Ngân hàng TMCP P – Phòng G; địa chỉ: G T, phường A, quận T, TP .. - Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Văn T3, chức vụ: giám đốc (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Thị Y và vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Â, Lê Thị H là người cùng xóm với nhau. Vào năm 2000, ông Hồ Văn T cha ruột Hồ Thị Y có cho Y miếng đất diện tích 4,4 x 10,5 mét thuộc thửa số D N, phường P, quận T nhưng do không có tiền Y bán bớt phần diện tích 2,2 x 10,5 mét vào năm 2003. Đối với diện tích đất còn lại, do không có hộ khẩu thành phố Hồ Chí Minh nên vào tháng 01/2004 Hồ Thị Y nhờ vợ chồng ông Â, bà H đứng tên chủ quyền nhà, rồi Y nhờ dịch vụ làm thủ tục hợp thức hóa nhà để được Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở, quyền sử dụng đất ở (sổ hồng) mang tên Nguyễn Ngọc Â, Lê Thị H vào ngày 25/02/2004, có địa chỉ nhà số F N, phường P, quận T. Khoảng thán 6/2004, do cần tiền trị bệnh nên Hồ Thị Y đồng ý bán lại căn nhà trên cho bà Nguyễn Thị Ngọc M1 với số tiền 150.000.000 đồng, được công chứng tại Phòng C bằng hình thức hợp đồng tặng cho theo yêu cầu của bà M1 vào ngày 30/6/2004 (vợ chồng ông Â, bà H đứng ra làm hợp đồng hộ Hồ Thị Y) nhưng vẫn để Y tiếp tục ở căn nhà trên một thời gian. Đến ngày 13/7/2004 bà M1 được UBND quận T cập nhật thông tin chủ sở hữu.
Sau đó, đến tháng 8/2004, do không có tiền trả nợ, chữa bệnh cho con nên Hồ Thị Y nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách nhờ ông Huỳnh Minh D làm thủ tục hợp thức hóa diện tích đất thuộc căn nhà số F N, phường P, quận T (mặc dù đã được cấp chủ quyền nhà và bán lại cho bà M1) nhưng ông D không biết căn nhà trên đã có giấy tờ nên nhờ Võ Thị K nộp hồ sơ tại UBND phường P, quận T (sau đó bị ngăn chặn do đã được cấp chủ quyền nhà). Y làm giấy tờ tay bán lại căn nhà trên cho ông Minh D nhưng ghi ngày 20/4/2000 để đỡ đóng thuế, rồi Y tiếp tục nhờ người giới thiệu để bán tiếp nhà số F N, phường P, quận T. Sau đó, bà Nguyễn Thị Tuyết Q giới thiệu của bà Trịnh Thị Kim H1 đã đi cùng ông Minh D đến gặp Y để xem nhà. Khi đó Y có nói căn nhà trên là của gia đình cho Y, chưa có giấy tờ nhà, đồng thời Y đưa bản photo giấy tờ cho đất của gia đình, bản vẽ photo nhà đất để bà T2 xem và nói căn nhà trên đang nhờ ông Minh D đứng tên hợp thức hóa để bà T2 tin tưởng. Sau đó Y nói với bà T2 nhà chưa có giấy tờ bán giá 26 lượng vàng SJC, còn nhà có giấy tờ bán giá 35 lượng vàng SJC nên bà T2 đồng ý mua với giá 26 lượng vàng SJC và đặt cọc cho bà Y 04 lượng vàng SJC vào ngày 11/8/2004.
Khoảng 2 ngày sau, bà T2 sang lại căn nhà trên cho ông Huỳnh Văn M2, bà Trần Thị Lan Đ với giá 27 lượng vàng SJC. Ngày 13/8/2004, bà T2, Kim H1, Huỳnh Minh D và vợ chồng ông M2, bà Đ cùng đến địa chỉ nhà trên gặp bà Y. Khi đó, bà T2 nói với Y đã bán lại căn nhà trên cho vợ chồng ông M2, bà Đ và bà T2 nói lại cho ông M2, bà Đ nghe căn nhà trên là của bà Y được gia đình cho, chưa có giấy tờ nhà, đang nhờ Minh D hợp thức hóa. Đồng thời, Y cũng nói với ông M2, bà Đ căn nhà trên là của gia đình cho Y, chưa có giấy tờ, đang nhờ Minh D hợp thức hóa nhà để ông M2, bà Đ tin tưởng mua. Sau đó, bà Đ đưa cho T2 22 lượng vàng SJC để mua căn trên nhưng bà T2 yêu cầu đưa qua cho bà Y để khỏi kiểm tra và bà Y làm giấy tờ tay bán nhà cho bà T2 rồi dọn nhà để đi. Đến ngày 21/8/2004, bà T2 làm giấy tờ tay bán lại căn nhà trên cho ông M2, bà Đ để nhận tiếp 05 lượng vàng SJC rồi giao nhà cho ông M2, bà Đ. Khoảng 02 tháng sau, bà Nguyễn Thị Ngọc M1 đến nhà trên gặp ông M2, bà Đ nói căn nhà trên đã có sổ hồng và Y đã bán và sang tên chủ quyền nhà cho bà M1. Lúc đó, ông M2, bà Đ đến gặp bà T2 để đòi lại số vàng nhưng bà T2 không đồng ý nên ông M2, bà Đ khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận Tân Phú. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu hình sự nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra theo thẩm quyền. Về phía Hồ Thị Y, sau khi nhận số vàng từ việc bán căn nhà trên đã đem bán lấy tiền trả nợ, chữa bệnh cho gia đình và tiêu xài cá nhân hết rồi bỏ đi sinh sống nhiều nơi đến ngày 28/5/2018 bị bắt theo Quyết định truy nã.
Tại Cơ quan điều tra, Hồ Thị Y thừa nhận bản thân biết căn nhà số F N, phường P, quận T đã có chủ quyền nhà và đã bán cho bà Nguyễn Thị Ngọc M1 bằng hình thức tặng cho (do vợ chồng ông Â, bà H đứng tên, giao dịch hộ). Do không có tiền trả nợ và chữa bệnh cho gia đình nên bà Y nói căn nhà trên chưa có giấy tờ, đang nhờ ông Huỳnh Minh D hợp thức hóa nhà để tiếp tục bán cho bà T2 như trên nhằm mục đích lấy tiền trả nợ và chữa bệnh.
Ngày 19/6/2018, Công ty V trả lời theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T thì vào thời điểm ngày 11/8/2004 và ngày 13/8/2004 vàng SJC có giá mua là 7.580.000 đồng/lượng. Tổng cộng 26 lượng vàng SJC trị giá 197.080.000 đồng.
Tiến hành xác minh được biết căn nhà số F N, phường P, quận T được bà Nguyễn Thị Ngọc M1 bán lại cho ông Nguyễn Xuân B vào ngày 22/8/2016. Đến ngày 05/9/2016 ông Nguyễn Xuân B đem thế chấp căn nhà trên tại Ngân hàng TMCP P địa chỉ B H, phường B, quận T cho đến nay. Hiện ông B không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được.
Về phần dân sự: do chưa làm việc được với ông Nguyễn Xuân B nên đề nghị tách để giải quyết riêng.
Vật chứng:
- 02 tờ giấy caro có nội dung giấy bán nhà giữa Hồ Thị Y và Nguyễn Thị T2 vào ngày 11/8/2004, giữa Nguyễn Thị T2 và Huỳnh Văn M2 vào ngày 21/8/2004
Tại bản cáo trạng số 158/CT-VKSQ.TP ngày 02 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Hồ Thị Y về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên Tòa:
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 139; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33, 45 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); xử phạt bị cáo Hồ Thị Y từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần dân sự và vật chứng.
- Bị cáo Hồ Thị Y đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hồ Thị Y đã khai nhận: nguồn gốc căn nhà số F N (nay là nhà số B N), phường P, quận T, TP . là do ông Hồ Văn T (cha ruột bị cáo Hồ Thị Y) làm giấy tặng cho bị cáo Y năm 2000 (diện tích 4,4m x 10,5m). Sau khi được cho đất bị cáo Y đã cắt 1 phần đất với diện tích 2,2m x 10,5m bán cho bà Nguyễn Thị H2 vào năm 2003. Phần đất còn lại (2,2m x 10,5m) bị cáo Y xây dựng nhà ở. Do không có hộ khẩu tại Tp . nên bị cáo Y nhờ vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Ẩ, bà Lê Thị H đứng tên dùm. Ngày 25/02/2004 UBND quận T, TP. cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Ẩ, bà Lê Thị H. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận vợ chồng ông Ẩ, bà H đưa Giấy chứng nhận bản chính cho bị cáo Y giữ. Tháng 6/2004 do cần tiền chữa bệnh nên bị cáo Y đã bán căn nhà trên cho bà Nguyễn Thị Ngọc M1 với số tiền 150.000.000 đồng và đã được sang tên bà M1. Do hoàn cảnh khó khăn, nên bị cáo Y xin bà M1 ở nhờ căn nhà này. Tháng 8/2004 do cần tiền trả nợ cho mẹ ruột, nên Y đã đưa ra thông tin gian dối căn nhà chưa được cấp Giấy chứng nhận nên bị cáo Y đã nhờ ông Huỳnh Minh D hợp thức hóa dùm và tìm người mua căn nhà trên, ông D giới thiệu bà Nguyễn Thị T2 mua căn nhà trên với giá 26 lượng vàng SJC, tương đương số tiền: 197.080.000 đồng và chiếm đoạt 26 lượng vàng SJC của bà T2. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 158/CT-VKSQ.TP ngày 02 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Hồ Thị Y về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Quá trình điều tra, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra phải ra Quyết định truy nã mới bắt được bị cáo. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- [4] Tình tiết tăng nặng: không.
- [5] Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, Sửa đổi, bổ sung năm 2009.
- [6] Đối với ông Huỳnh Minh D, bà Trịnh Thị Kim H1 không biết căn nhà trên đã có giấy chủ quyền nhà và đã bán cho bà Nguyễn Thị Ngọc M1 nên không đủ cơ sở để xử lý về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với vai trò đồng phạm với Hồ Thị Y là phù hợp.
Đối với bà Nguyễn Thị T2, bà T2 không biết căn nhà trên đã có giấy chủ quyền nhà và Hồ Thị Y đã bán cho bà Nguyễn Thị Ngọc M1 trước khi bán cho bà nên việc bà T2 sang lại nhà cho vợ chồng ông Huỳnh Văn M2, bà Trần Thị Lan Đ là giao dịch dân sự.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Để bảo đảm quyền lợi cho người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28 BLTTHS năm 2003, tách phần dân sự để giải quyết bằng vụ kiện dân sự riêng biệt khi các bên có yêu cầu.
- [8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 02 tờ giấy caro có nội dung giấy bán nhà giữa Hồ Thị Y và Nguyễn Thị T2 vào ngày 11/8/2004, giữa Nguyễn Thị T2 và Huỳnh Văn M2 vào ngày 21/8/2004. Lưu hồ sơ vụ án.
- [9] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí 200.000 đồng hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- [1] Tuyên bố: bị cáo Hồ Thị Y phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- [2] Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 139; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33, 45 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
- [3] Xử phạt: bị cáo Hồ Thị Y 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 29/02/2024. Khấu trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giam trước đó (Từ ngày 28/05/2018 đến ngày 07/06/2018).
- [4] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: Tách ra giải quyết bằng vụ kiện dân sự riêng biệt khi các bên có yêu cầu.
- [5] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án: 02 tờ giấy caro có nội dung giấy bán nhà giữa Hồ Thị Y và Nguyễn Thị T2 vào ngày 11/8/2004, giữa Nguyễn Thị T2 và Huỳnh Văn M2 vào ngày 21/8/2004.
- [6] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- - Buộc bị cáo Hồ Thị Y phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hồ Thị Y có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thành |
Bản án số 224/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 224/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
