TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 224/2024/DS-PT Ngày 11 - 11 - 2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên;
Các Thẩm phán:
Ông Lê Quang Tấn
Ông Trần Bá Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 183/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Phạm Đăng P, sinh năm 1954 (vắng mặt).
- Bà Vương Thị Mỹ L, sinh năm 1962 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A N, khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà L: Ông Phạm Vương L1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A N, khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. (Theo giấy uỷ quyền chứng thực ngày 23/3/2022) (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Trần Văn Ồ, sinh năm 1949 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1949 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Ỗ, bà N: Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn D, M, V, Nam Định, theo giấy ủy quyền chứng thực ngày 28/02/2024 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Trương Hữu T, sinh năm 1976 (vắng mặt).
- Bà Hà Thị V, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ C, khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà V: Ông Bùi Xuân T1, sinh năm 1985; địa chỉ: 1 L, tổ A, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy ủy quyền chứng thực ngày 13/4/2024 (có mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Phạm Đăng P và bà Vương Thị Mỹ L - Ông Phạm Vương L1 trình bày:
Ngày 06/10/1997, ông Phạm Đăng P và bà Vương Thị Mỹ L có làm hợp đồng chuyển nhượng của ông Nguyễn Hoàng V1 (Hiện nay đã chết, không có vợ, không con và hiện chỉ còn người chị duy nhất là bà Nguyễn Thị N) một thửa đất tọa lạc tại khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, diện tích đất 19,5m² gắn liền trên đất có căn nhà sàn. Số tiền chuyển nhượng đất ông P, bà L đã thanh toán đầy đủ cho ông V1 và ông V1 cũng đã bàn giao nhà và đất cho ông P, bà L. Theo tờ trích đo địa chính thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 59, diện tích 18,1m² do Phạm Đăng P đứng tên, hiện thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do công việc làm ăn nên ông P, bà L không ở mà để nhà trống cho đến nay. Nay ông P, bà L đến thửa đất và căn nhà thì phát hiện vợ chồng ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V đang quản lý sử dụng và buôn bán gà, vịt. Khi phát hiện ông P, bà L có hỏi vợ chồng ông T thì vợ chồng ông T cho rằng ông, bà đã chuyển nhượng lại của vợ chồng ông Trần Văn Ô và bà Nguyễn Thị Nhan . Ông P, bà L có giải thích và chứng minh giấy tờ cho vợ chồng ông T biết là thửa đất và căn nhà này là của ông P, bà L nhưng vợ chồng ông T nói là chuyển nhượng của vợ chồng ông Ô không chịu di dời giao trả nhà và đất cho ông P, bà L.
Vụ việc tranh chấp ông P, bà L có làm đơn gửi đến UBND phường A, thành phố P ngày 03/3/2022 UBND phường A có mời các bên liên quan đến hòa giải nhưng do các bên không đạt được thỏa thuận nên UBND phường A hòa giải không thành. Do đó, ông P, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P, bà L với ông Nguyễn Hoàng V1 ký kết ngày 06/10/1997 đối với thửa đất tọa lạc tại
khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, diện tích là 19,5m² theo tờ trích đo địa chính thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 59, diện tích 18,1m² do ông Phạm Đăng P đứng tên, gắn liền trên đất có căn nhà sàn vách tôn, diện tích chiều ngang 03m x chiều dài 06m.
- Buộc vợ chồng ông Trần Văn Ổ, bà Nguyễn Thị N và vợ chồng ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V phải di dời đi nơi khác giao trả lại thửa đất tọa lạc tại khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang diện tích là 19,5m² theo tờ trích đo địa chính thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số 59, diện tích 18,1m² do ông Phạm Đăng P đứng tên, gắn liền trên đất có căn nhà sàn vách tôn, diện tích chiều ngang 03m x chiều dài 06m cho ông P, bà L quản lý sử dụng.
* Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, ông Phạm Công D là đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V trình bày:
Gia đình ông Trần Văn Ổ và bà Nguyễn Thị N có 01 thửa đất diện tích khoảng 18,1m², tọa lạc tại khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Nguồn gốc thửa đất là gia đình ông Ỗ, bà N nhận chuyển nhượng của ông M vào năm 1979 và bắt đầu sử dụng đất từ đó.
Đến năm 1997, do làm nghề ngư phủ mà thời gian đó mưa bảo kéo dài nên ông Ỗ, bà N tập trung giữ thuyền bè và ít khi về nhà. Tuy nhiên, khi tình hình cơn bảo ổn định, ông Ỗ, bà N quay về nhà thì thấy căn nhà của mình bị người khác khóa lại. Thông qua tìm hiểu vợ chồng ông Ô biết được ông Phạm Đăng P là người đã có hành vi tự ý khóa cửa nhà và đòi chiếm đoạt căn nhà của ông Ỗ, bà N. Quá bức xúc về hành vi của ông Phạm Đăng P, ông Trần Văn Ổ đã báo chính quyền địa phương ngày đó để giải quyết và đã được trả lại nhà.
Sau lần tranh chấp đó, gia đình ông Ổ, bà N vẫn tiếp tục quản lý và sử dụng căn nhà, thửa đất nêu trên mà không xảy ra tranh chấp với bất kỳ ai. Đến năm 2000, ông Ỗ, bà N chuyển về căn nhà khác sinh sống nên đã cho vợ chồng ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V thuê lại căn nhà và phần đất trên để làm nơi kinh doanh, buôn bán. Gia đình ông T, bà V thuê nhà, đất từ năm 2000 đến năm 2015 làm ăn ổn định và không ai tranh chấp kể cả trong quá trình thuê có sửa chữa, cải tạo lại căn nhà.
Trong quá trình thuê đất, vợ chồng ông T thấy đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp với ai nên đã nhận chuyển nhượng lại từ ông Ỗ, bà N để ở và kinh doanh. Hai bên đã tiến hành lập Hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/11/2015 đối với thửa đất nêu trên với giá trị là 90.000.000 đồng, phía ông T, bà V đã thanh toán đủ tiền cho vợ chồng ông Ỗ, bà N ngay sau khi các bên ký kết Hợp đồng.
Sau khi nhận chuyển nhượng thì gia đình ông T, bà V tiếp tục sửa chữa lại ngôi nhà và sử dụng đất ổn định cho đến khi ông P, bà L đến tranh chấp vào năm 2022. Việc ông T, bà V sửa nhà, sử dụng nhà, đất ổn định, không có ai đến tranh chấp từ năm 2000 đến năm 2022 có nhều người dân xung quanh chứng kiến, làm chứng và có sự xác nhận của cả Ban lãnh đạo khu phố C, phường A vào năm 2016.
Đến nay, không hiểu vì lý do gì và chứng cứ, giấy tờ từ đâu, ông Phạm Đăng P và bà Vương Thị Mỹ L lại khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/10/1997 giữa ông Nguyễn Hoàng V1 và ông Phạm Đăng P, bà Vương Thị Mỹ L, yêu cầu công nhận căn nhà và quyền sử dụng đất cho ông P, bà L. Thông qua diễn biến thời gian các vụ việc, các giấy tờ có trong hồ sơ vụ án, ông bà nhận thấy rằng việc chuyển nhượng đất giữa ông Nguyễn Hoàng V1 và ông Phạm Đăng P, bà Vương Thị Mỹ L là sự việc không có thật. Đồng thời, ông Nguyễn Hoàng V1 cũng không phải là chủ sử dụng của thửa đất nêu trên nên cũng không có quyền chuyển nhượng cho ông P, bà L. Do đó, căn cứ Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 yêu cầu Toà án giải quyết:
- Hủy Đơn xin chuyển nhượng bất động sản ngày 06/10/1997 và những thỏa thuận có liên quan đến việc chuyển nhượng giữa ông Nguyễn Hoàng V1 và vợ chồng ông Phạm Đăng P, bà Vương Thị Mỹ L.
- Công nhận Hợp đồng sang nhượng đất ngày 19/11/2015 giữa ông Trần Văn Ổ, bà Nguyễn Thị N chuyển nhượng cho ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V.
* Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, bị đơn ông Trần Văn Ồ, bà Nguyễn Thị N và người đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị L2 có ý kiến trình bày như nội dung trình bày của ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đăng P và bà Vương Thị Mỹ L đối với ông Trần Văn Ồ, bà Nguyễn Thị N và ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn Ổ, bà Nguyễn Thị N, ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V đối với nguyên đơn ông Phạm Đăng P, bà Vương Thị Mỹ L.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ xác lập ngày 06/10/1997 dưới hình thức “Đơn xin chuyển nhượng bất động sản” giữa ông Nguyễn Hoàng V1 với vợ chồng ông Phạm Đăng P, bà Vương Thị Mỹ L.
Buộc ông Trần Văn Ồ, bà Nguyễn Thị N và ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V có nghĩa vụ giao trả lại diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế 17,2m² và giao căn nhà trên đất diện tích 23,8m² cho vợ chồng ông P, bà L quản lý, sử dụng. Thể hiện theo trích đo địa chính số TĐ 861-2023 ngày 19/7/2023 của Chi nhánh VPĐK đất đai thành phố P có hình 1-2-3-4, tứ cạnh như sau:
Cạnh 1-2 = 3,05m giáp đất Nguyễn Thanh B.
Cạnh 2-3 = 5,75m giáp đất Nguyễn Bé T2.
Cạnh 3-4 = 2,83m giáp hẻm.
Cạnh 4-1 = 5,91m giáp đất Nguyễn Thị Thu H.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông P, bà L trả cho ông T, bà V giá trị căn nhà với số tiền 13.363.000 đồng (Mười ba triệu, ba trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, lãi suất chậm trả và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
* Ngày 13/3/2024 Bị đơn ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bao gồm:Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự có ý kiến:
Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Vương L1 tự nguyện cho ông T và V lưu cư đối với căn nhà nói trên thời hạn là 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lức pháp luật.
Bị đơn ông T, bà V2 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiện tòa phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và những người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông T, bà V. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện ủy quyền của nguyên đơn cho ông T, bà V được lưu cư 03 tháng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe lời phát biểu của đại diện viện kiểm sát, đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Ông Phạm Đăng P và bà Vương Thị Mỹ L cho rằng ngày 06/10/1997 ông, bà có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Hoàng V1 (đã chết) phần đất diện tích 19,5m², gắn liền trên đất có căn nhà sàn, tọa lạc tại khu phố C, thị trấn A, huyện P (nay là phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Hai bên đã giao nhận tiền và bàn giao nhà đất cho nhau xong. Nay ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V cho rằng nhà đất này đã nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn Ồ, bà Nguyễn Thị N nên không đồng ý trả lại cho ông P, bà L. Do đó ông P, bà L khởi kiện ông Ồ, bà N và ông T, bà V tranh chấp quyền sử dụng đất.
Bị đơn ông Ồ, bà N và ông T, bà V có đơn phản tố yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V1 với ông P, bà L và yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Ổ, bà N và ông T, bà V đã ký ngày 19/11/2015.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn nhận thấy:
[3.1] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp đo đạc thực tế 17,2m²: Bị đơn ông Ồ, bà N cho rằng nhà, đất tranh chấp là của ông M (không rõ họ, tên, địa chỉ) nhưng ông Ồ, bà N không cung cấp được chứng cứ gì thể hiện nguồn gốc nhà, đất tranh chấp là của ông M.
Theo biên bản xác minh nhà, đất ngày 31/11/1994 (Bút lục 10) và xác nhận của UBND xã A ngày 02/12/1994 (Bút lục 07) thì nguồn gốc diện tích nhà, đất đang tranh chấp là của ông Nguyễn C, bà Võ Thị S khai khẩn. Đến năm 1980, ông C, bà S chết để lại nhà, đất trên cho con là ông Nguyễn Hoàng V1 sử dụng. Đến ngày 26/10/1994, ông V1 đã làm đơn xin hợp thức hóa chủ quyền nhà, đất và được UBND xã A (nay là UBND phường A) thành phố P xác nhận thống nhất cho ông V1 được hợp thức hóa chủ quyền nhà, đất nêu trên. Ông V1 đã thực hiện nghĩa vụ đóng thuế nhà, đất đầy đủ theo quy định của pháp luật (Bút lục 08, 09) và sử dụng nhà, đất ổn định, không ai tranh chấp từ năm 1994 cho đến khi chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông P, bà L vào năm 1997 (BL số 04). Do đó, có đủ cơ sở để xác định diện tích nhà, đất đo đạc thực tế hiện nay 17,2m² các bên đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông Nguyễn Hoàng V1 mà không phải của ông M hay của ông Ô, bà N.
[3.2] Xét hợp đồng chuyển nhượng bất động sản ngày 06/10/1997 giữa ông Nguyễn Hoàng V1 với vợ chồng ông Phạm Đăng P, bà Vương Thị Mỹ L nhận thấy: Hợp đồng được lập thành văn bản nhưng không có công chứng, chứng thực là vi phạm quy định tại Điều 691 Bộ luật dân sự năm 1995. Về nội dung: Diện tích nhà, đất 19,5m² của ông V1 vẫn chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc ông V1 ký hợp đồng chuyển nhượng để chuyển nhượng nhà, đất trên cho ông P, bà L là vi phạm quy định tại Điều 6 Luật đất đai năm 1993. Tuy nhiên, nguồn gốc nhà, đất 19,5m² của ông V1 đã được UBND xã A (nay là UBND phường A) xác nhận sử dụng ổn định, không ai tranh chấp và chấp thuận đơn xin hợp thức hóa nhà, đất của ông V1 vào ngày 02/12/1994. Đến ngày 06/10/1997, ông V1 đã chuyển nhượng lại toàn bộ nhà, đất cho vợ chồng ông P, bà L và viết giấy cam kết đề ngày
06/10/1997 xác nhận đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng đất là 02 lượng vàng 24k và bàn giao nhà, đất diện tích 19,5m² cho ông P, bà L quản lý, sử dụng (bút lục số 05, 06). Từ khi chuyển nhượng nhà, đất đến khi ông V1 chết ngày 19/8/2009 thì ông V1 không có tranh chấp gì đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/10/1997 với vợ chồng ông P, bà L. Đến năm 2006, ông P, bà L kê khai đo đạc đứng tên trên bản đồ địa chính thuộc thửa số 118, tờ bản đồ số 59, diện tích 18,1m².
Tại công văn số 437/UBND-ĐCXD ngày 26/10/2023 của UBND phường A xác định diện tích đất 17,2m² nêu trên hiện nay đủ điều kiện xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai. Do đó, căn cứ Điều 129, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015, điểm b.1 và b.3 mục 2 phần II nghị quyết số 02 ngày 10/8/2004 của HĐTP TAND tối cao thì giao dịch chuyển nhượng nhà, đất ngày 06/10/1997 giữa ông V1 với vợ chồng ông P, bà L được pháp luật công nhận.
[3.3] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/11/2015 giữa vợ chồng ông Trần Văn Ồ, bà Nguyễn Thị N với vợ chồng ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V thấy rằng: Về hình thức: Hợp đồng được lập thành văn bản nhưng không có công chứng, chứng thực là vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013. Về nội dung: Tại thời điểm vợ chồng ông Ồ, bà N ký hợp đồng chyển nhượng quyền sử dụng đất với vợ chồng ông T, bà V thì toàn bộ diện tích nhà, đất theo hợp đồng không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Ồ, bà N mà toàn bộ diện tích nhà, đất nêu trên thuộc thửa số 118, tờ bản đồ số 59, diện tích 18,1m² đứng tên ông Phạm Đăng P được ghi nhận trên sổ mục kê đất đai của UBND thị trấn A. Vì vậy, việc ông Ổ, bà N ký kết hợp đồng để chuyển nhượng nhà, đất trên cho ông T, bà V là vi phạm quy định tại Điều 168, Điều 188 Luật đất đai năm 2013 nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/11/2015 bị vô hiệu cả về hình thức lẫn nội dung theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Ồ, bà N, ông T, bà V ngày 19/11/2015 là có cơ sở.
[3.4] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Ồ, bà N và ông T, bà V không yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết. Ngày 04/3/2024, ông T, bà V có đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu ông Ồ, bà N bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 307.087.000 đồng. Tuy nhiên, tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 23/11/2023 ông T, bà V đã xác định không có yêu cầu ông Ô, bà N bồi thường và tại biên bản lấy lời khai ngày 28/02/2024, ông Phạm Công D một lần nữa khẳng định lại ý kiến của ông T, bà V. Vì vậy, cấp sơ thẩm căn cứ Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận đơn của ông T, bà V mà ông T, bà V có quyền khởi kiện ông Ồ, bà N trong một vụ án khác là có căn cứ.
Xét thấy, hiện nay diện tích đất 17,2m² và căn nhà tiền chế trên đất diện tích 23,8m² đang do vợ chồng ông T, bà V quản lý, sử dụng. Do việc nhận chuyển nhượng nhà, đất ngày 19/11/2015 của ông T, bà V không được pháp luật
công nhận nên việc ông T, bà V quản lý, sử dụng nhà, đất nêu trên là sử dụng không có căn cứ pháp luật nên phải trả lại cho chủ sử dụng hợp pháp là ông P, bà L. Do đó, việc ông P, bà L yêu cầu vợ chồng ông Ồ, bà N và vợ chồng ông T, bà V phải di dời, giao trả lại diện tích nhà, đất đo đạc thực tế 17,2m² là phù hợp với quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015 cần chấp nhận.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L1 đại diện cho ông P, bà L đồng ý trả cho ông T, bà V giá trị căn nhà trên đất diện tích 23,8m² theo kết luận định giá tài sản là 13.363.000 đồng. Xét thấy, việc tháo dỡ di dời sẽ làm ảnh hưởng đến giá trị sử dụng của căn nhà, việc ông L1 đồng ý trả giá trị căn nhà cho ông T, bà V là tự nguyện và có lợi cho ông T, bà V nên cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
[4] Xét về thời gian lưu cư: Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Vương L1 tự nguyện cho ông T và V lưu cư đối với căn nhà nói trên thời hạn là 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy sự tự nguyện của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên hội đồng xét sự ghi nhận sự tự nguyện này.
[5] Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V.
Tại cấp phúc thẩm ông T, bà V kháng cáo nhưng không có cung cấp thêm chứng cứ gì mới để chứng minh là việc kháng cáo của ông bà là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của ông T, bà V như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.
[6] Các nội dung khác trong phần Quyết định của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông T, bà V. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo của ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V không được chấp nhận, nên ông T, bà V mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phúc thẩm đã nộp số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000017 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (do ông Trương Hữu T nộp). Vậy ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V còn phải nộp thêm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng các Điều 690, 691, 699 Bộ luật dân sự năm 1995; các Điều 129, 166, 500, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6 Luật đất đai năm 1993; các Điều 167, 168, 188 Luật đất đai năm 2013; điểm b.1 và b.3 mục 2 phần II nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của HĐTP TAND tối cao; các Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đăng P và bà Vương Thị Mỹ L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Trần Văn Ổ, bà Nguyễn Thị N và ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 06/10/1997 giữa ông Nguyễn Hoàng V1 với vợ chồng ông Phạm Đăng P, bà Vương Thị Mỹ L. Buộc ông Trần Văn Ồ, bà Nguyễn Thị N và ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V có nghĩa vụ giao trả lại diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế là 17,2m² và giao căn nhà trên đất diện tích 23,8m² cho vợ chồng ông P, bà L quản lý, sử dụng.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn Ổ, bà Nguyễn Thị N, ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V đối với nguyên đơn ông Phạm Đăng P, bà Vương Thị Mỹ L.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 06/10/1997 dưới hình thức “Đơn xin chuyển nhượng bất động sản” giữa ông Nguyễn Hoàng V1 với vợ chồng ông Phạm Đăng P, bà Vương Thị Mỹ L.
Buộc ông Trần Văn Ồ, bà Nguyễn Thị N và ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V có nghĩa vụ giao trả lại diện tích đất tranh chấp qua đo đạc thực tế là 17,2m² và giao căn nhà trên đất diện tích 23,8m² cho vợ chồng ông P, bà L quản lý, sử dụng. Thể hiện theo trích đo địa chính số TĐ 861-2023 ngày 19/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P có hình 1-2-3-4, tứ cạnh như sau:
Cạnh 1-2 = 3,05m giáp đất Nguyễn Thanh B.
Cạnh 2-3 = 5,75m giáp đất Nguyễn Bé T2.
Cạnh 3-4 = 2,83m giáp hẻm.
Cạnh 4-1 = 5,91m giáp đất Nguyễn Thị Thu H.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông P, bà L trả cho ông T, bà V giá trị căn nhà với số tiền 13.363.000 đồng (Mười ba triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm lãi suất của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tổng cộng 7.660.352 đồng. Ông Ồ, bà N phải chịu ½ số tiền là 3.830.176 đồng. Ông T, bà V3 phải chịu ½ số tiền là 3.830.176 đồng (Ba triệu tám trăm ba mươi nghìn một trăm bảy mươi sáu đồng). Do ông P, bà L đã ứng trước nên ông Ồ, bà N và ông T, bà V phải trả lại cho ông P, bà L.
- Về chi phí tố tụng:
Chi phí bản vẽ theo hoá đơn ngày 29/8/2023 là 1.160.352 đồng và chi phí định giá theo hoá đơn ngày 12/10/2023 là 5.550.000 đồng, do ông P, bà L được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên ông Ồ, bà N và ông T, bà V phải chịu.
- Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phạm Đăng P và bà Vương Thị Mỹ L là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, nên ông P, bà L không phải chịu án phí theo quy định.
Ông Ồ, bà N thuộc diện người cao tuổi và đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.
Ông T, bà V3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch tổng cộng số tiền là 900.000 đồng. Nhưng được khấu trừ 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông T, bà V đã nộp theo biên lai thu số 0009238 ngày 09/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang nên ông T, bà V phải nộp tiếp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trương Hữu T, bà Hà Thị V mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phúc thẩm đã nộp số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000017 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (do ông Trương Hữu T nộp). Vậy ông Trương Hữu T và bà Hà Thị V còn phải nộp thêm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phạm Đăng P và bà Vương Thị Mỹ L là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, nên ông P, bà L không phải chịu án phí theo quy định.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Nhiên
Bản án số 224/2024/DS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 224/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông P tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông O
