Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 224/2024/HS-ST

Ngày 05-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Biên.
  2. Bà Nguyễn Thị Thuỷ.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 219/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh C, sinh năm 2004.

Quê quán: thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Nơi thường trú: Thôn C, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Nơi ở hiện nay: Số nhà C, ngõ A, đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Sửa chữa điện thoại; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.

Con ông Trần Danh T, sinh năm 1976 và bà Trần Thị N, sinh năm 1978; Gia đình có ba chị em, bị cáo là thứ hai.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 22/8/2024 đến ngày 29/8/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (Có mặt).

* Bị hại: Chị Chu Yến L, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số nhà F, ngõ A, đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Quang T1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số nhà F, ngõ A, đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

- Anh Lưu Văn N1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn S, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

- Bà Trần Thị T2, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số nhà C, ngõ A, đường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Minh C, sinh năm 2004, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (hiện ở số nhà C, ngõ A đường L, thành phố B) làm nghề sửa chữa điện thoại tại cửa hàng điện thoại của chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1988 ở số A đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Khoảng 10 giờ ngày 21/8/2024, C điều khiển xe mô tô Honda SH biển số 98E1-842.17 đi đến cửa hàng Đ ở đường Q, phường T, thành phố B nhận điện thoại của khách hàng đem về sửa chữa. Khi C trên đường đi về đến cửa hàng T5 ở số A đường L, thành phố B thì nhìn thấy ở lề đường bên phải có dựng 01 chiếc xe mô tô Honda Vision BKS 98B3-712.30, trong hốc để đồ bên trái xe có để 01 chiếc điện thoại di động. Đây là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu bạc, ốp nhựa màu trắng (dung lượng 128GB, có mật khẩu màn hình) của chị Chu Yến L, sinh năm 1996, trú tại số nhà F, ngõ A đường L, thành phố B đi cùng chồng là anh Trần Quang T1, sinh năm 1988 để ở đó để vào mua hàng. Chiến quan sát xung quanh không có ai để ý nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại để sử dụng. C điều khiển xe đi qua khoảng 10m rồi vòng lại dừng xe ở sát cạnh bên trái xe mô tô của chị L. C dùng tay trái thò vào hộc để đồ lấy chiếc điện thoại rồi điều khiển xe đi đến khu Ô, phường H, thành phố B thì dừng lại, cho chiếc điện thoại vào túi nilông màu xanh rồi cất giấu trong cốp xe sau đó đi về cửa hàng làm việc.

Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, C đi đến nhà anh Lưu Văn N1, sinh năm 1988, trú tại thôn S, xã Đ, thành phố B là nhân viên cùng làm việc tại cửa hàng điện thoại Ngọ T4 nhờ phá khóa màn hình chiếc điện thoại để C sử dụng. Anh N1 xem điện thoại và trả lời không phá khoá được. C tiếp tục nhờ anh N1 tìm cách phá khoá điện thoại sau đó đi về.

Buổi sáng ngày hôm sau, anh N1 đi đến cửa hàng làm việc và đem theo chiếc điện thoại rồi để tại cửa hàng. Buổi trưa cùng ngày, anh N1 biết thông tin Công an thành phố B triệu tập C đến làm việc liên quan đến trộm cắp nên đã gọi điện thoại cho bà Trần Thị T2, sinh năm 1970 là bác ruột và ở cùng nhà với C đến cửa hàng N2 lấy điện thoại mang về. Sau đó, bà T2 đã giao nộp chiếc điện thoại trên cho Cơ quan điều tra.

Đối với chị Chu Yến L sau khi phát hiện bị trộm cắp chiếc điện thoại đã có đơn trình báo và giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đoạn video trích xuất từ camera của cửa hàng T5 có ghi lại hình ảnh sự việc.

Ngày 22/8/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Trần Minh C để làm việc thì C đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp chiếc điện thoại như nêu trên và giao nộp chiếc xe mô tô Honda SH biển số 98E1-842.17.

Ngày 29/8/2024, Cơ quan điều tra đã cho C thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả C thực hiện thành thục động tác dùng tay trái trộm cắp chiếc điện thoại di động để trong hộc đựng đồ bên trái chiếc xe của chị L sau đó đi khỏi hiện trường như C đã khai.

Kết luận định giá tài sản số 214 ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu bạc, IMEI 1: 359265384012395, IMEI 2: 359265384497364, dung lượng 128GB đã qua sử dụng có giá trị ở thời điểm ngày 21/8/2024 là 20.000.000 đồng.
  • 01 (một) ốp lưng điện thoại sử dụng cho điện thoại Iphone 14 Pro Max bằng nhựa, màu trắng đã qua sử dụng có giá trị ở thời điểm ngày 21/8/2024 là 10.000 đồng.
  • Chi phí làm lại 01 sim thuê bao mạng Vinaphone là 12.500 đồng.

Tổng giá trị tài sản là: 20.022.500 đồng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 01 file video do chị Chu Yến L giao nộp. Kết luận giám định số 2034/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 file video được lưu giữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.

Cơ quan điều tra đã cho C quan sát file video nêu trên. Kết quả, C xác định có hình ảnh C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 98E1-842.17 đi đến dùng tay trái trộm cắp chiếc điện thoại di động để trong hốc xe máy của chị L.

Cơ quan điều tra đã cho C và chị L quan sát chiếc điện thoại di động do bà T2 giao nộp. C xác nhận đây là điện thoại mà C đã trộm cắp. Chị L xác nhận đúng là điện thoại bị mất trộm. Chị L cung cấp mật khẩu 040819 thì mở được khoá màn hình.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra trả lại chiếc điện thoại Iphone 14 Promax đã thu giữ cho chị Chu Yến L. Chị L không yêu cầu bồi thường.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH biển số 98E1-842.17 đăng ký mang tên anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1998, trú tại xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Kết quả điều tra xác định C mua lại và tặng cho bà Trần Thị T2 chiếc xe này nên Cơ quan điều tra đã trả lại bà T2.

Đối với anh Lưu Văn N1 nhận giúp Trần Minh C phá khóa chiếc điện thoại Iphone 14 Promax nhưng chưa phá được khoá và không biết là tài sản do C phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

* Tại bản cáo trạng số 211/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Minh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh C từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin được hưởng án treo để có cơ hội cải sửa bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/8/2024, Trần Minh C điều khiển xe mô tô đi qua cửa hàng T5 ở số A, đường L, thành phố B thì nhìn thấy chiếc xe mô tô Honda Vision BKS 98B3-712.30 dựng ở lề đường, trong hốc để đồ có để 01 chiếc điện thoại di động (nhãn hiệu Iphone 14 Promax dung lượng 128GB có mật khẩu màn hình, trị giá 20.022.500 đồng). Chiếc điện thoại này của chị Chu Yến L để ở đó vào mua hàng. C đã trộm cắp chiếc điện thoại của chị L rồi nhờ anh Lưu Văn N1 phá khóa nhưng không được. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc điện thoại và trả lại cho bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[5] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo tự nguyện ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND xã, phường nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do nghề nghiệp của bị cáo không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Đối với anh Lưu Văn N1 nhận giúp Trần Minh C phá khóa chiếc điện thoại Iphone 14 Promax nhưng chưa phá được khoá và không biết là tài sản do C phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xử phạt bị cáo Trần Minh C 01(một) năm 03(ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 02(hai) năm 06(sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo C cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - UBND p.Lê Lợi, tp.Bắc Giang, Bắc Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 224/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh C trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger