Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2024/HS-ST

Ngày: 18-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Nga, bà Lê Thị Kiều Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa T - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 184/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Lê Văn T1 (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 20/11/1999 tại Bình Thuận.

Nơi cư trú: khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V, sinh năm 1976 và bà Kiều Thị Thu N, sinh năm 1974; vợ, con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/5/2024, chuyển qua tạm giữ từ ngày 14/5/2024 cho đến nay, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Phan Văn P (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 08/7/1999 tại Bình Thuận.

Nơi đăng ký HKTT: Khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: khu phố B, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Đ, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; vợ, con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Không..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, Lê Văn T1 đến nhà trọ của Phan Văn P ở địa chỉ số C đường T (thuộc khu phố B, phường B, thành phố P) để chơi. Sau khi ngồi nói chuyện được một lúc, T1 rủ P góp tiền mua ma túy về sử dụng thì P đồng ý. P đưa cho T1 100.000 đồng, T1 góp thêm 100.000 đồng rồi T1 nhắn tin qua mạng xã hội facebook cho một người bạn tên “Boy” (không rõ nhân thân) để hỏi chỗ mua ma túy thì “Boy” cho T1 số điện thoại của một người bán ma túy (không rõ nhân thân). T1 gọi điện thoại cho người bán để hỏi mua ma túy thì người này đồng ý và hẹn T1 đến khu vực chợ P1 để lấy ma túy. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô biển số 86B2-607.05 (xe T1 mượn của em trai T1) đến điểm hẹn và đợi 15 phút thì có người đến gặp. T1 đưa người này 200.000 đồng thì người này đưa lại cho T1 01 tép ma túy đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, T1 xóa hết mọi thông tin liên lạc với “Boy” và người bán ma túy, rồi mang ma túy và bộ dụng cụ về lại phòng trọ của P. Tại đây, T1 cắt tép ma túy vừa mua đổ hết vào nỏ thủy tinh và tiêm lửa để T1 và P sử dụng. Khi cả hai đang luân phiên nhau sử dụng ma túy thì bị Lực lượng Công an phường B phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng và đưa T1 và P về trụ sở Công an phường để làm việc. Tại đây, T1 và P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng của vụ án: Thu giữ trên sàn nhà (trong phòng trọ của P) nơi T1 và P đang ngồi: 01 chai nhựa có nắp màu vàng, trên nắp được cắm một ống nhựa hút nước màu đen và một ống thủy tinh uốn cong, thổi phồng một đầu, trong đầu thổi phồng chứa một lớp tinh thể rắn màu trắng (ống thủy tinh uốn cong, thổi phồng một đầu, trong đầu thổi phồng chứa một lớp tinh thể rắn màu trắng được Công an niêm phong để phục vụ công tác giám định; được ký hiệu là M khi giám định).

- Thu giữ của Lê Văn T1:

  • + 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ được bọc trong 01 ốp lưng bằng nhựa trong suốt đã ngả vàng, màn hình điện thoại bị răng nứt, không xác định tình trạng linh kiện bên trong điện thoại;
  • + 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario, màu đen, biển số 86B2-607.05, không xác định tình trạng máy bên trong.

Tại Bản kết luận giám định số 544/KL-KTHS ngày 20/5/2024, Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0510 gam, là Methamphetamine.

Xử lý vật chứng:

Viện kiểm sát nhân dân TP Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển các vật chứng sau đến Chi cục thi hành án dân sự TP Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý, gồm: 01 chai nhựa có nắp màu vàng, trên nắp được cắm 01 ống nhựa hút nước màu đen; 01 ống thủy tinh uốn cong, thổi phồng một đầu cùng số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 544 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của Lê Văn T1.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario, màu đen, biển số 86B2-607.05: qua xác minh xác định xe thuộc sở hữu hợp pháp của anh Lê Văn A (sinh năm 2005, trú tại khu phố H, phường Đ, TP P, tỉnh Bình Thuận), là em ruột của Lê Văn T1. Xét thấy, anh A không biết việc T1 mượn xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh A. Sau khi nhận tài sản, anh A không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại Cáo trạng số 170/CT-VKSPT-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố các bị cáo Lê Văn T1, Phan Văn P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với mức án từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù giam. Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với mức án từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù giam.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy gồm 01 chai nhựa có nắp màu vàng, trên nắp được cắm 01 ống nhựa hút nước màu đen; 01 ống thuỷ tinh uốn cong, thổi phồng 01 đầu cùng số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì 544. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Lê Văn T1.

Các Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào lúc 21 giờ 15 phút ngày 13/5/2024, tại nhà trọ của Phan Văn P thuộc khu phố B, phường B, thành phố P, Lê Văn T1 là người rủ rê, góp tiền 100.000 đồng rồi đi mua ma túy, P là người cung cấp địa điểm và góp tiền 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy và được người bán cho bộ dụng cụ sử dụng ma túy, T1 mang về phòng trọ của P rồi đổ hết số ma túy vừa mua vào nỏ, rồi tiêm lửa đun nóng để T1 và P cùng sử dụng. Khi cả hai đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phường B phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong nỏ 0,0510 gam Methamphetamine.

T1 rủ P cùng góp tiền mua ma tuý cùng sử dụng, T1 mua ma túy và chuẩn bị dụng cụ còn P chuẩn bị địa điểm tại phòng trọ do P thuê. Hành vi của T1, P cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Lê Văn T1 và Phan Văn P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Các bị cáo Lê Văn T1 và Phan Văn P có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T1, P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phan Văn P đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ tại Đồn biên phòng T2 - Bộ đội biên phòng tỉnh B (xuất ngũ tháng 01/2020) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chai nhựa có nắp màu vàng, trên nắp được cắm 01 ống nhựa hút nước màu đen; 01 ống thuỷ tinh uốn cong, thổi phồng 01 đầu cùng số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì 544 là vật có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, Nhà nước cấm lưu hành, cấm tàng trữ, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo thu giữ của Lê Văn T1 là vật chứng có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T1, do không rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P không có cơ sở để xác minh, xử lý.

Đối với 0,0510 gam Methamphetamine còn lại trong nỏ tại phòng trọ của P, do lượng ma túy này không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, T1 và P cũng chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và các tội quy định tại Điều 248, 250, 251, 252 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T1 và P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2024.

Căn cứ: khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn P 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa có nắp màu vàng, trên nắp được cắm 01 ống nhựa hút nước màu đen; 01 ống thuỷ tinh uốn cong, thổi phồng 01 đầu cùng số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì 544 là vật có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, Nhà nước cấm lưu hành, cấm tàng trữ.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo thu giữ của Lê Văn T1.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 184 ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lê Văn T1, Phan Văn P mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/10/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS nhân dân thành phố Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 224/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Toàn, Phan Văn Phúc phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger