Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH VĨNH LONG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2024/DS-PT

Ngày: 23-9-2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lộc

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Hà

Ông Nguyễn Văn Trường.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Khương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST, ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 261/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Võ Văn S, sinh năm 1954.

Địa chỉ: ấp H, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc K, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Số C, đường N, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Bị đơn: Cao Văn M, sinh năm 1964.

Địa chỉ: ấp H, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 3.1. Ngô Thị D, sinh năm 1966.
  • 3.2. Cao Hoài T, sinh năm 1988.
  • 3.3. Hà Thị Ngọc T1, sinh năm 1989.

Cùng địa chỉ: ấp H, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Người kháng cáo: Ông Cao Văn M - là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/10/2022 và trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn Võ Văn S trình bày:

Ông Võ Văn S là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất 386, tờ bản đồ 0003, diện tích 1.150m², loại đất thổ quả, toạ lạc tại ấp H, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Ngày 06/10/1993, ông S được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 386, mang số phát hành C 254376, số vào sổ 21510. Thửa đất 386 của ông S giáp với thửa đất 378 của ông M. Trong quá trình sử dụng, ông M đã lấn sang thửa đất 386 của ông S ngang 03 mét, dài 80 mét, với diện tích khoảng 240m² để trồng xoài, dừa. Ông S khởi kiện yêu cầu ông M di dời cây trồng để trả lại ông S quyền sử dụng đất khoảng 240m², thuộc chiết thửa 386.

Bị đơn Cao Văn M trình bày:

Đất đai của ông M là của cha mẹ ông M để lại. Ông M quản lý sử dụng hơn 10 năm và đã được cấp quyền sử dụng đất cho ông M. Hiện ông M đang quản lý sử dụng hai thửa đất giáp ranh thửa đất 386 của ông S, gồm: Thửa 338, tờ bản đồ số 16, diện tích ghi nhận là 126,7m², loại đất ở nông thôn, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang số phát hành CB 570937, số vào sổ CS01879, ngày cấp 30/9/2015; thửa 316, tờ bản đồ số 16, diện tích ghi nhận là 620,5m², loại đất ở và trồng cây lâu năm, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang số phát hành CB 5709944, số vào sổ CS01874, ngày cấp 30/9/2015. Ông M không lấn đất của ông S. Ông M không đồng ý theo yêu cầu của ông S.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị D và anh Cao Hoài T trình bày:

Bà D và anh T thống nhất theo ý kiến của ông M.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít đã xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Võ Văn S:

Buộc bị đơn Cao Văn M tháo dỡ, di dời 03 (ba) cây dừa, 03 (ba) cây xoài và tài sản khác của ông M hiện có trên diện tích đất 93,2m² loại đất trồng cây lâu năm (CLN) thuộc thửa 522-1 (cũ là thửa 386).

Buộc bị đơn Cao Văn M hoàn trả nguyên đơn Võ Văn S quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 93,2m² loại đất trồng cây lâu năm (CLN) thuộc thửa 522-1 (cũ là thửa 386).

Căn cứ vào Trích đo bản đồ địa chính khu đất do Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện M lập ngày 21/9/2023, diện tích 93,2m² loại đất trồng cây lâu năm (CLN) thuộc thửa 522-1 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ là thửa 386) được thể hiện qua các mốc giới: [6, A, 16, 3, 4, 5, 6].

(Kèm theo Trích đo bản đồ địa chính khu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M lập ngày 21/9/2023; Trích đo bản đồ hiện trạng khu đất do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M lập ngày 12/7/2017; Công văn số 936/CNVP-ĐKĐĐ ngày 06/12/2023 của Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện M).

Các đương sự có quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí dân sự sơ thẩm và về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/3/2024 bị đơn ông Cao Văn M có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn S.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Cao Văn M1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Ông Cao Văn M trình bày cây của ông trồng trên đất tranh chấp từ năm 2000, nên không di dời được. Mặt khác khi nhà nước thực hiện đo đạc đất đai theo bản đồ địa chính chính quy (dự án VLAP) ông kê khai đăng ký thửa đất số 522 khi đo đạc có ông Võ Văn S có ký tên giáp cận. Nên ông Cao Văn M khẳng định đất phần đất tranh chấp thuộc tách thửa đất 522-1 là của ông nên ông không đồng ý trả theo yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn S.

Anh Phạm Ngọc K đại diện cho ông Võ Văn S không đồng ý với kháng cáo của ông Cao Văn M. Anh K trình bày khi nhà nước thực hiện lại việc đo đất theo bản đồ địa chính chính quy (dự án VLAP) ông Võ Văn S đi làm ăn xa không có ở địa phương nên ông S không có ký tên vào biên bản khi đo đạc đất theo dự án VLAP.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Cao Văn M là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận đơn kháng cáo của ông Cao Văn M, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Võ Văn S. Do sửa án sơ thẩm, nên ông S phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng. Ông Cao Văn M không phải chịu án phí phúc thẩm. Do ông S là người cao tuổi, nên được miễn tiền án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Cao Văn M nộp còn trong hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
  2. Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Cao Văn M Hội đồng xử án xét thấy:

Ông Võ Văn S có thửa đất 386, tờ bản đồ 0003, diện tích 1.150m², loại đất thổ quả, toạ lạc tại ấp H, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/10/1993. Liền kề với đất của ông Võ Văn S là đất của ông Cao Văn M thuộc thửa đấ số 338, tờ bản đồ số 16, diện tích 126,7m², loại đất ở nông thôn, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp 30/9/2015 và thửa 316, tờ bản đồ số 16, diện tích 620,5m², loại đất ở và trồng cây lâu năm, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang cấp ngày 30/9/2015.

Quá trình sử dụng đất ông Võ Văn S cho rằng ông Cao Văn M lấn chiếm đất của ông Võ Văn S, nên xảy ra tranh chấp. Ông Cao Văn M trình bày ông không có lấn chiếm đất của ông S. Đất của ông có nguồn gốc do cha, mẹ ông chết để lại cho ông sử dụng từ năm 1993 đến nay. Do đó ông M không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông S.

Qua các tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án xác định ông Võ Văn S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 124 (thửa mới 386), tờ bản đồ 0003, diện tích 1.150m², loại đất thổ quả, toạ lạc tại ấp H, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long là cấp giấy theo chương trình đất 299, chưa thực hiện việc cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy (dự án VLAP). Thửa đất số 338 và thửa đất số 316 của ông Cao Văn M được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính chính quy (dự án VLAP). Ngoài ra ông Cao Văn M còn trình bày ông chỉ có thửa đất số 338 và 316, ngoài ra ông không còn thửa đất nào khác.

Tại kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 25/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V thể hiện phần đất tranh chấp giữa ông S và ông M có diện tích 106,4m².

Tại công văn số 4152/VPĐKDĐ ngày 24/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V trả lời cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long như sau: Phần đất tranh chấp có diện tích 106,4m² theo tư liệu bản đồ địa chính chính quy thuộc thửa 522 do ông Cao Văn M kê khai đăng ký theo tư liệu chương trình đất thuộc thửa 124 (thửa cũ 386) ghi nhận ông Võ Văn S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Từ đó cho thấy phần đất tranh chấp diện tích 106,4m² thuộc thửa đất 386 do ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 386 vẫn còn giá trị pháp lý.

Xét thấy phần đất tranh chấp có diện tích 106,4m² thuộc thửa đất số 522 do ông Cao Văn M kê khai đăng ký quyền sử dụng đất trên bản đồ địa chính chính quy (dự án VLAP) nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất 522 ông M trình bày ông đã sử dụng từ khi cha, mẹ ông để lại năm 1993 đến nay. Hiện nay trên phần đất tranh chấp có 03 cây dừa và 03 cây xoài ông M khai là đã trồng từ năm 2000. Tại phiên tòa phúc thẩm ông M trình bày ông đã kê khai thửa đất số 522 trên bản đồ địa chính chính quy, khi đo đạc có ông Võ Văn S ký tên giáp cận. Đai diện ông Võ Văn S xác định khi đo đất theo dự án VLAP ông S không có ở mặt địa phương, nên ông S không có ký tên giáp cận khi đo đất theo dự án VLAP. Tại phiên tòa phúc thẩm ông M trình bày cây trồng trên đất tranh chấp do ông trồng từ năm 2000, nên không thể di dời được.

Xét thấy phần đất tranh chấp thuộc một phần của thửa đất 522. Thửa đất 522 ông M kê khai đăng ký theo dự án VLAP đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên cần phải tiến hành thu thập chứng cứ là qua các thời kỳ biến động đất đai thửa đất 522 do ai kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và cần phải thu thập thêm hồ sơ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất số 522 để xem xét khi kê khai đăng ký và đo đạc thửa 522 ông S có chứng kiến và ký giáp cận vào biên bản đo đất hay không. Có như vậy mới xác định được nguồn gốc cụ thể của thửa đất số 522, để giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Mặt khác số cây trồng trên phần đất tranh chấp ông M khai là do ông trồng từ năm 2000 nên không thể di dời được. Do đó cần phải xem xét định giá cây trồng và tài sản khác gắn liền với đất tranh chấp để làm căn cứ giải quyết vụ án đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

  1. Do tại phiên tòa phúc thẩm có phát sinh thêm các tình tiết cần phải thu thập thêm mới giải quyết vụ án một cách toàn diện và triệt để nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do các tình tiết này tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được, nên cần phải hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm xét xử lại đúng quy định của pháp luật.
  2. Xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là chưa đủ căn cứ.
  3. Về án phí phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm nên ông Cao Văn M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Về chi phí tố tụng: Được xem xét khi vụ án được xét xử lại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, 14, 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít đã xử giữa nguyên đơn ông Võ Văn S với bị đơn ông Cao Văn M và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  2. Giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử lại vụ án đúng quy định của pháp luật.
  3. Về chi phí tố tụng: Được xem xét khi vụ án được xét xử lại sơ thẩm.
  4. Về án phí phúc thẩm: Ông Cao Văn M được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- TAND Cấp cao: 01;

- VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;

- Phòng KTNV&THA: 01;

- TAND huyện Mang Thít: 01;

- THADS huyện Mang Thít: 01;

- Các đương sự;

- Lưu: 06;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2024/DS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 224/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông S tranh chấp QSDĐ với ông M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger