TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 224/2024/HS-ST
Ngày 12-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 225/2024/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1988 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Khu phố AH, phường HL, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Khu phố AH, phường HL, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1960; bị cáo có 04 chị em, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1992; có vợ là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2015; Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 08/6/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bến Cát xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện vào các ngày 19/12/2017 (trị giá tài sản 3.150.000 đồng), ngày 08/01/2018 (trị giá tài sản 16.800.000 đồng), ngày 08/01/2018 (trị giá tài sản 2.500.000 đồng). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2019, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự.
Ngày 22/3/2024, bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã (nay là thành phố) Bến Cát cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm 1978; địa chỉ thường trú: Thôn S, xã LT, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; địa chỉ tạm trú: Đường DJ, khu phố B, phường TH, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn C. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” bị xử phạt 01 năm 02 tháng tù giam. Ngày 18/03/2019, C ra tù về ở cùng gia đình tại khu phố AH, phường HL, thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đi làm thợ sơn nước kiếm sống.
Sáng ngày 20/10/2020, đối tượng tên Huy (không rõ lai lịch) là bạn làm chung sơn nước với C, điều khiển xe mô tô hiệu Wave biển số 51L1-0378 đến nhà của C chở C đi làm tại công trình xây dựng thuộc khu phố Bến Đồn, phường HL, thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Khi đến nơi, do trời mưa nên Huy rủ C về phòng trọ của Huy tại khu công nghiệp MP III để uống rượu. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến đoạn đường NL12, thuộc khu phố B, phường TH, thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì Huy dừng xe bên lề đường phía trước công trình xây dựng nhà của ông Nguyễn Văn C. Huy nói C ngồi trên xe cảnh giới để Huy đi vào công trình lấy trộm tài sản, thì C đồng ý. Sau đó, Huy đi vào công trình lấy trộm được 04 chân giàn giáo của ông Lê Văn T là chủ thầu xây dựng đem ra cùng C chất lên xe mô tô biển số 51L1-0378 cho C ngồi phía sau xe giữ. Khi Huy chuẩn bị điều khiển xe chở C và 04 chân giàn giáo chạy đi thì bị ông C phát hiện truy hô. Lúc này, Huy và C xuống xe bỏ chạy. Ông C đuổi theo một đoạn khoảng 200m thì bắt giữ được C, còn Huy chạy thoát. Ông C giao C cho Công an phường TH xử lý. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã thị xã (nay là thành phố) Bến Cát thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 04 (bốn) chân giàn giáo bằng sắt đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô hiệu Wave gắn biển số 51L1-0378 có số máy RMHYX152FMH-C 000257, số khung RMHWCH2UM6TZ00208.
Theo Kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố Bến Cát, kết luận: 04 chân giàn giáo bằng sắt (thu giữ) đã qua sử dụng trị giá 600.000 đồng
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của C phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 232/CT-VKS ngày 22/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 232/CT-VKS ngày 22/8/2024.
Tại phần tranh luận:
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát theo Cáo trạng số 232/CT-VKS ngày 22/8/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 07 (bảy) đến 09 (chín) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tuyên: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 51L1-0378, Số máy: RMHYX152FMH-C 000257; Số khung: RMHWCH2UM6TZ00208 (xe cũ nát, thiếu một số bộ phận, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 06 giờ 30 phút sáng ngày 20/10/2020, tại phía trước công trình xây dựng cạnh đường NL12, thuộc khu phố B, phường TH, thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn C đã có hành vi đứng ngoài cảnh giới cho đối tượng Huy (không rõ lai lịch) đi vào công trình xây dựng lén lút lấy trộm
tài sản là 04 chân giàn giáo bằng sắt của ông Lê Văn T trị giá 600.000 đồng mang ra ngoài. C phụ giúp Huy chất tài sản trộm được lên xe mô tô của Huy. Huy chuẩn bị điều khiển xe chở chạy đi thì bị ông Nguyễn Văn C phát hiện bắt giữ được C, còn Huy chạy thoát.
Mặc dù, bị cáo có hành vi giúp sức cho đối tượng tên Huy (không rõ lai lịch) chiếm đoạt tài sản của bị hại dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 232/CT-VKS ngày 22/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất: Bị cáo lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại đã lén lút chiếm đoạt là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi giao trả cho bị hại được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 04 chân giàn giáo bằng sắt của bị hại ông Lê Văn T trị giá 600.000 đồng. Ngày 23/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Bến Cát đã xử lý vật chứng giao trả 04 chân giàn giáo bằng sắt cho ông Lê Văn T, ông Tám không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wppave biển số 51L1-0378, Số máy: RMHYX152FMH-C 000257; Số khung: RMHWCH2UM6TZ00208: Qua tra cứu không tìm thấy thông tin chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát đã đăng báo Tuổi trẻ thông báo tìm chủ sở hữu 03 số liên tiếp vào các ngày 5, 6, 7/6/2024 nhưng đến nay vẫn không nhận được tin tức gì về chủ sở hữu xe này. Xe này bị cáo sử dụng phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Đối với đối tượng tên Huy (không rõ lai lịch), hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau là có căn cứ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 51L1-0378, Số máy: RMHYX152FMH-C 000257; Số khung: RMHWCH2UM6TZ00208 (xe cũ nát, thiếu một số bộ phận, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).
(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát giữa Công an thành phố Bến Cát và Chi cục Thi hành án dân thành phố Bến Cát)
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm, tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 224/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm, Tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. 1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2024. 2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. 3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
