Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 224/2023/HS-ST Ngày 19-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn và ông Nguyễn Quang kim.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B, Toà án nhân dân huyện Việt Yên xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 213/2023/TLST-HS ngày 23/11/2023; quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2023/QĐXXST-HS ngày 01/12/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn T, sinh năm 1994. Giới tính: Nam.

  • - Tên gọi khác: Không.
  • - Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản H, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
  • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không.
  • - Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 4/12.
  • - Con ông: Quàng Văn B (đã chết).
  • - Con bà: Lò Thị H.
  • - Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất.
  • - Vợ: Cà Thị H1, sinh năm 1997.
  • - Bị cáo có 01 con sinh năm 2015.
  • - Tiền án, tiền sự: Không.
  • - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Cà Văn Đ, sinh năm 1996. Giới tính: Nam.

  • - Tên gọi khác: Không.
  • - Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La.
  • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không.
  • - Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 11/12.
  • - Con ông: Cà Văn L.
  • - Con bà: Cà Thị L1.
  • - Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất.
  • - Vợ: Lèo Thị I, sinh năm 2000.
  • - Ban can có 01 con sinh năm 2019.
  • - Tiền án, tiền sự: Không.
  • - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: Cà Văn L2, sinh năm 2002. Giới tính: Nam.

  • - Tên gọi khác: Không.
  • - Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La.
  • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không.
  • - Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12.
  • - Con ông: Cà Văn D.
  • - Con bà: Cà Thị D1.
  • - Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất.
  • - Vợ, con: Chưa có.
  • - Tiền án, tiền sự: Không.
  • - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Đồng Thị Thanh H2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số C, đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

* Người làm chứng:

  • - Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
  • - Bùi Đức M, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 14/8/2023, tại khu vực hành lang vỉa hè giáp với đường nội bộ D7-1 đối diện tường rào của Công ty TNHH J thuộc Khu công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Đồn Công an Q phối hợp với lực lượng bảo vệ vành đai Khu công nghiệp Q, huyện V phát hiện, bắt quả tang Lò Văn T- sinh năm 1994, trú tại bản H, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Cà Văn Đ- sinh năm 1996, trú tại bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La và Cà Văn L2- sinh năm 2002, trú tại Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: T2 tại lòng bàn tay phải của Cà văn Lên 01 gói giấy bạc được gấp kín, bên trong gói giấy bạc có 01 viên nén màu hồng nghi là ma túy hồng phiến có lẫn chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroin. Toàn bộ số ma túy trên được niêm phong trong phong bì được ký hiệu “QT”. Quá trình bắt quả tang còn thu giữ: Thu giữ của Cà Văn L2 gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y211s, mầu trắng, có số Imell: 861128055108036, lắp sim số 0375116451; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 26M1- 273.26. Thu giữ của C Đại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, mầu xanh có số Imell: 863948064457100, lắp sim số 0393600749.

Ngày 15/8/2023, Đồn Công an Q đã bàn giao hồ sơ, vật chứng và các đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V để điều tra theo thẩm quyền. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lò Văn T, Cà Văn Đ, Cà Văn L2 tại Phòng số 2, Lán trại công nhân Khu công nghiệp V-Q thuộc thôn T, xã V, huyện V. Kết quả không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 15/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V trưng cầu Phòng K- Công an tỉnh B giám định đối với vật chứng thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”.

Kết luận giám định số 1556/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Trong 01 (một) gói giấy bạc:

  • - Chất cục bột màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,049 gam, loại Heroine (H.
  • - 01 (một) viên nén màu hồng đỏ là ma túy, có khối lượng 0,106 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn Đ, Cà Văn L2 đều khai nhận về nguồn gốc số ma túy như sau: Lò Văn T- sinh năm 1994, trú tại bản H, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Cà Văn Đ- sinh năm 1996, trú tại bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La và Cà Văn L2- sinh năm 2002 trú tại Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La đều là công nhân xây dựng tại công trường Công ty H4 thuộc Khu công nghiệp Q, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang và đều là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 14/8/2023, Lò Văn T, Cà Văn Đ và Cà Văn L2 rủ nhau góp tiền mua ma túy H3 và ma túy Methamphetamine về để sử dụng chung. T, Đ và L2 thống nhất với nhau là Đ góp 100.000 đồng, T và L2 mỗi người góp 50.000 đồng đưa cho L2 để đi mua ma túy. Đ và T đưa cho L2 rồi Đ đi làm ở công trường xây dựng. Lên sử dụng số điện thoại 0375.116.xxx gọi đến số điện thoại 0818.354.xxx của một nam thanh niên nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy Heroine và Methamphetamine thì nam thanh niên đồng ý. Lên và nam thanh niên hẹn nhau giao ma túy ở khu vực cống chui N thuộc tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 26M1- 273.26 chở L2 đi đến khu vực cống chui N, thị trấn N, huyện V thì thấy một nam thanh niên khoảng 30 tuổi, đeo khẩu trang, đội mũ điều khiển xe mô tô (không để ý nhãn hiệu, biển kiểm sátxe) đi đến đỗ gần xe mô tô của T và L2. Lên xuống xe đưa cho nam thanh niên 200.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa lại cho L2 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất cục bột mầu trắng là ma túy Heroine và 01 viên nén mầu hồng là ma túy Methamphetamine. Lên cầm gói ma túy ở tay phải rồi cùng T đi đến công trường xây dựng đón Đ đi tìm nơi sử dụng ma túy. Sau đó T, Đ và L2 cùng đi đến khu vực hành lang vỉa hè đường D đối diện tường rào Công ty TNHH J thuộc Khu công nghiệp Q để sử dụng ma túy thì bị Công an Q kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng liên quan.

Đối với người nam thanh niên khoảng 30 tuổi, đeo khẩu trang, đội mũ đã bán ma túy cho Lên ngày 14/8/2023 tại khu vực cống chui N thuộc tổ dân phố N, thị trấn N, huyện V. Cơ quan điều tra xác minh tại Công an thị trấn N xác định không có người nam thanh niên nào có đặc điểm như Lên khai có biểu hiện mua bán trái phép ma tuý tại khu vực cống chui thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V Cơ quan điều tra đã tách các tài liệu liên quan đến người này ra khỏi hồ sơ vụ án, tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với số điện thoại 0818.354.xxx mà Cà Văn L2 khai đã liên hệ để mua ma túy ngày 14/8/2023. Quá trình điều tra xác định đăng ký thuê bao số điện thoại trên là của chị Đồng Thị Thanh H2- sinh năm 1982, trú tại số nhà C, đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; chị H2 khai không đăng ký và không sử dụng số thuê bao trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y21ls, mầu trắng, có số Imell: 861128055108036, lắp sim số 0375116451; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 26M1- 273.26 thu giữ của Cà Văn L2 xác định các tài sản trên của L2 trong đó chiếc điện thoại dùng vào việc phạm tội, chiếc xe mô tô không dùng vào việc phạm tội; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, mầu xanh có số Imell: 863948064457100, lắp sim số 0393600749 thu giữ của Cà Văn Đ là điện thoại của Đ không dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng đối với số vật chứng nêu trên cùng với số ma tuý còn lại sau giám định để xử lý theo quy định.

Tại Cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn Đ, Cà Văn L2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo và đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ Lò Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2023.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Cà Văn Đại từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2023.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Cà Văn L2 từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2023.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo L2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 26M1- 273.26.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y211s, mầu trắng, có số Imell: 861128055108036, lắp sim số 0375116451.

Trả lại cho bị cáo Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, mầu xanh có số Imel1: 863948064457100, lắp sim số 0393600749.

Tịch thu tiêu hủy một phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn L2Cà Văn Đ do thuộc hộ cận nghèo và ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.

Các bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 14/8/2023, tại khu vực hành lang vỉa hè giáp với đường nội bộ D7-1 đối diện tường rào của Công ty TNHH J thuộc Khu công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Đồn Công an Q phối hợp với lực lượng bảo vệ vành đai Khu công nghiệp Q, huyện V phát hiện, bắt quả tang Lò Văn T, Cà Văn Đ, Cà Văn L2 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,049 gam chất ma túy Heroine và 0,106 gam chất ma túy Methamphetamine, với mục đích để sử dụng. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn Đ, Cà Văn L2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ xã hội, làm sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội các bị cáo gây ra để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo Lò Văn T, Cà Văn Đ, Cà Văn L2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những phân tích trên, cần xử phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy các bị cáo đều rủ nhau mua ma tuý để sử dụng, bị cáo Đại góp số tiền 100.000đ để mua ma tuý lớn hơn các bị cáo khác. Bị cáo TL2 góp số tiền 50.000đ để mua ma tuý cùng sử dụng ít hơn bị cáo Đ nhưng bị cáo TĐ là người trực tiếp đi mua ma tuý. Do vậy, vai trò của 3 bị cáo là ngang nhau.

[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định bị cáo L2Đ do hộ cận nghèo và ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 26M1- 273.26 thu giữ của Cà Văn L2 xác định các tài sản trên của L2 không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo L2.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y211s, mầu trắng, có số Imell: 861128055108036 của bị cáo L2 dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, mầu xanh có số Imell: 863948064457100, lắp sim số 0393600749 thu giữ của Cà Văn Đ là điện thoại của Đ không dùng vào việc phạm cần trả lại cho bị cáo Đ.

Đối với số ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiên huỷ.

[8] Về án phí: bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Miễn án phí cho bị cáo L2Đ do hộ cận nghèo và ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.

[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2023.
  2. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Cà Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2023.
  3. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Cà Văn L2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/8/2023.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Trả lại cho bị cáo L2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 26M1-273.26.
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y211s, mầu trắng, có số Imell: 861128055108036, lắp sim số 0375116451.
    • Trả lại cho bị cáo Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, mầu xanh có số Imel1: 863948064457100, lắp sim số 0393600749.
    • Tịch thu tiêu hủy một phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định.
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn L2Cà Văn Đ.
  6. Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND h. Việt Yên, t. Bắc Giang;
  • - Công an h. Việt Yên, t. Bắc Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an h. Việt Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - CCTHADS h. Việt Yên, t. Bắc Giang;
  • - Bị cáo (qua Trại tạm giam);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 224/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger