|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:224/2024/HS-ST
Ngày 19-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Nguyễn Thị Bích Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận
Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 228/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 583/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974 tại Nam Định. Nơi thường trú: xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi ở: Lang thang, không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có chồng là Đỗ Văn S (đã ly hôn) và 03 con; tiền án: Tại Bản án 16/2016/HS-ST ngày 02/3/2016, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù, thời gian chấp hành từ ngày 30/11/2015 về tội Trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 17.742.000 đồng. L được miễn thi hành án dân sự từ tháng 05/2023; tại Bản án 48/2019/HS-ST ngày 19/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử 12 tháng tù, thời gian chấp hành từ ngày 24/6/2019 về tội Trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.149.800 đồng. L đã chấp hành xong án phí từ tháng 10/2019; tại Bản án 77/2021/HS-ST ngày 18/5/2021, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù, thời gian chấp hành từ ngày 09/02/2021 về tội Trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 1.716.000 đồng. L chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/8/2022; tại Bản án 01/2023/HS-ST ngày 05/01/2023, Tòa án nhân dân
quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù, thời gian chấp hành từ ngày 26/9/2022 về tội Trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản trộm cắp là 300.000 đồng. L chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/3/2024; tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 09/5/2024, đến ngày 15/5/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bị hại: Chị Lê Thị T1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số C đường N, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 07/5/2024, Nguyễn Thị L đạp xe mini màu đỏ đi hướng cầu vượt Nguyễn Bỉnh K về cầu vượt L. Khi đi qua nhà số C N, Đ, N, Hải Phòng thấy cửa mở không có ai trông coi, L đã dựng xe đạp ở lòng đường và đi bộ vào trong nhà. Quan sát xung quanh, L thấy trên bàn học gần cửa ra vào có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vsmart Joy 4, màu xanh, có ốp hình con vật hoạt hình của chị Lê Thị T1 (sinh năm 1986, chủ nhà) đang sạc điện. L tiến lại gần, dùng tay rút sạc, lấy chiếc điện thoại rồi đi ra cho vào giỏ xe đạp. Sau đó, L đạp xe bỏ đi.
Ngày 09/5/2024, chị T1 đến Công an quận N trình báo về việc mất điện thoại và giao nộp 01 USB chứa video ghi lại hình ảnh 01 người phụ nữ mặc áo kẻ ô vuông, quần họa tiết đi vào nhà chị vào khoảng 17 giờ 14 phút ngày 07/5/2024.
Cùng ngày 09/5/2024, L đến Công an quận N đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên và giao nộp 01 áo vải dài tay họa tiết ô vuông cùng 01 quần vải dài họa tiết (là quần áo L mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản), 01 căn cước công dân và 01 xe đạp mini màu đỏ đã qua sử dụng. L khai: Ngày 07/5/2024, sau khi trộm cắp tài sản, L điều khiển xe đạp đi đến gầm cầu vượt Lạch Tray ngồi uống nước. Tại đây, L lấy chiếc điện thoại trên ra xem thì thấy màn hình không sáng. Thấy vậy, anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1962, nơi cư trú: 7 L, H, L, Hải Phòng) đang ngồi uống nước cùng bàn bảo với L là điện thoại bị hỏng. L nói đây là điện thoại của L và nhờ anh T2 đi sửa hộ. Anh T2 đồng ý và mang điện thoại đi mất.
Tiến hành làm việc với anh T2, anh T2 giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart Joy 4, màu xanh, dung lượng 64GB, có ốp hình con vật hoạt hình đã qua sử dụng và khai nhận: Ngày 07/5/2024, anh T2 cầm điện thoại L đưa về nhà sạc thì thấy điện thoại vẫn nên màn hình, không bị hỏng. Ngày 08/5/2024, anh T2 tìm L để trả lại nhưng không thấy. Ngày 09/5/2024, khi làm việc với Cơ quan điều tra, anh T2 mới biết chiếc điện thoại trên là do L trộm cắp mà có.
Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận N: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4, màu xanh, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 1.100.000 đồng.”.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
2
- 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart Joy 4, màu xanh, dung lượng 64GB, có ốp hình con vật hoạt hình, lắp sim điện thoại 0829.303.xxx đã qua sử dụng; xác định chị Lê Thị T1 là chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại tài sản cho chị T1.
- 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 USB chứa video clip do chị T1 giao nộp đưa vào hồ sơ vụ án.
- 01 áo vải dài tay họa tiết ô vuông cùng 01 quần vải dài họa tiết, 01 căn cước công dân số [...] và 01 xe đạp mini màu đỏ đã qua sử dụng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Lê Thị T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.
Tại Bản Cáo trạng số 232/CT-VKS ngày 29/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Bị hại chị Lê Thị T1 vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác nên không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo vải dài tay họa tiết ô vuông cùng 01 quần vải dài họa tiết; Trả lại bị cáo Nguyễn Thị L 01 căn cước công dân số [...]; 01 xe đạp mini màu đỏ đã qua sử dụng đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và
3
những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/5/2024, tại nhà số C N, Đ, Ngô Q, Hải Phòng, Nguyễn Thị L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4, màu xanh, dung lượng 64GB, của chị Lê Thị T1. Kết luận định giá tài sản số 22/KL- HĐĐGTS ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận N: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 4, màu xanh, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 1.100.000 đồng.”. Bị cáo L đã bị kết án 04 lần về tội Trộm cắp tài sản và đều chưa được xóa án tích. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L đã đủ yếu tố cầu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Thị L về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội. Vì vậy, cần thiết bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
- Về tình tiết tăng nặng:
[5] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:
[6] Nhân thân bị cáo có 04 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xoá, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Do nghề nghiệp và thu nhập của bị cáo không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng của vụ án:
[9] Căn cứ điểm a khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo vải dài tay họa tiết ô vuông cùng 01 quần vải dài họa tiết; Trả lại bị cáo Nguyễn Thị L 01 căn cước công dân số [...]; 01 xe
4
đạp mini màu đỏ đã qua sử dụng đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí:
[10] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Đối với hành vi Nguyễn Văn T2 nhận sửa hộ điện thoại Vsmart Joy 4 cho L, anh T2 không biết đó là tài sản L trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2024.
-Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo vải dài tay họa tiết ô vuông cùng 01 quần vải dài họa tiết; Trả lại bị cáo Nguyễn Thị L 01 căn cước công dân số [...]; 01 xe đạp mini màu đỏ đã qua sử dụng đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 30/8/2024)
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại chị Lê Thị T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án
5
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |
6
Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 224/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Liên
