TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 225/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-8-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Kha
Ông Ngô Văn Bê
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐ-ST ngày 23/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hỷ Thị Thu M, sinh ngày 11/4/1996 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động ở nước ngoài).
Chị M ủy quyền cho chị Hoàng Thị Hương L, sinh năm 2001; Địa chỉ: Lô A, LK37, khu đô thị P, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giao nhận các tài liệu với Tòa án (văn bản ủy quyền ngày 13/5/2024, không triệu tập).
- Bị đơn: Anh Lý Văn D, sinh ngày 07/3/1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Hỷ Thị Thu M trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh D được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 06/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh D làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên tháng 10/2019 chị đi lao động tại P. Do khoảng cách địa lý xa xôi dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cả hai ít liên lạc với nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 02/2020 đến nay chị và anh D không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị về thăm gia đình, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lý Văn D.
Về con chung: Chị, anh D có 01 con chung là cháu Lý Thanh T, sinh ngày 15/5/2017. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh D tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Để tránh làm ảnh hưởng và xáo trộn cuộc sống của cháu chị đề nghị giao con chung cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu anh D yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung chị chỉ đồng ý mức cấp dưỡng hàng tháng với mức 3.000.000 đồng/01 tháng.
Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, do điều kiện công việc bận chị không đến làm việc với Tòa án được nên chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chị ủy quyền cho chị Hoàng Thị Hương L, sinh năm 2001; Địa chỉ: Lô A, LK37, khu đô thị P, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giao nhận các tài liệu với Tòa án.
Bị đơn anh Lý Văn D trình bày:
Về hôn nhân: Về quá trình tìm hiểu đi đến hôn nhân, quá trình chung sống của vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly thân như chị M trình bày. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị M xin ly hôn anh đồng ý. Anh cũng đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Hỷ Thị Thu M.
Về con chung: Anh, chị M có 01 con chung là cháu Lý Thanh T, sinh ngày 15/5/2017. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao cháu T cho anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng 4.000.000 đồng/01 tháng.
Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, do điều kiện công việc bận anh không đến làm việc với Tòa án được nên anh đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Cháu Lý Thanh T trình bày: Cháu hiện nay đang sinh sống cùng bố và ông nội tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống cháu được bố chăm sóc chu đáo, cẩn thận, được đưa đi học đầy đủ, cháu phát triển ổn định cả về vật chất và tinh thần. Mẹ cháu đi lao động tại nước ngoài nhưng vẫn thường xuyên liên lạc với cháu. Do cháu sinh sống cùng bố từ lâu, cuộc sống đang ổn định nên nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được sinh sống cùng bố và ông nội.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Hỷ Thị Thu M và anh Lý Văn D vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Hỷ Thị Thu M; bản tự khai của anh Lý Văn D, biên bản lấy lời khai của cháu Lý Thanh T và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Hỷ Thị Thu M, bị đơn anh Lý Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt, nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị M, anh D là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hỷ Thị Thu M. Xử;
Về hôn nhân: Chị Hỷ Thị Thu M được ly hôn anh Lý Văn D.
Về nuôi con chung: Do chị M hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lý Thanh T cho anh Lý Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Hỷ Thị Thu M phải cấp dưỡng nuôi cháu Lý Thanh T cùng anh Lý Văn D mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/ 01 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8/2024 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Chị Hỷ Thị Thu M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị M khởi kiện xin ly hôn anh D và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Tại Công văn số: 14325/QLXNC-P3 ngày 04/7/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp, chị M có 07 lượt xuất nhập cảnh, lần gần nhất xuất cảnh ngày 16/5/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, chị M được xác định là đang ở nước ngoài. Anh D là bị đơn có nơi thường trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có nguyên đơn chị Hỷ Thị Thu M ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Hỷ Thị Thu M, bị đơn anh Lý Văn D đều xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Hỷ Thị Thu M và anh Lý Văn D.
- Về hôn nhân: Chị Hỷ Thị Thu M và anh Lý Văn D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 06/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị M, anh D phát sinh mâu thuẫn, chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lý Văn D.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hỷ Thị Thu M đối với anh Lý Văn D, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị M, anh D chung sống hòa thuận. Nhưng từ sau khi chị M đi lao động Philippine thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và từ tháng 02/2020 đến nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Chị M đề nghị được ly hôn anh D, anh D có lời khai trình bày đồng ý yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị M. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị M, anh D không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M, xử cho chị Hỷ Thị Thu M được ly hôn anh Lý Văn D là có căn cứ và phù hợp đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
- Về nuôi con chung: Chị M, anh D có 01 con chung là cháu Lý Thanh T, sinh ngày 15/5/2017. Cháu T hiện đang sinh sống cùng anh D. Sau khi ly hôn chị M đề nghị giao cháu T cho anh D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh D dồng ý và cháu T có nguyện vọng được ở cùng bố.
Xét yêu cầu giao cháu Lý Thanh T cho anh D trực tiếp, nuôi dưỡng sau ly hôn của chị M, Hội đồng xét xử thấy: Chị M hiện đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị M, anh D đồng ý sau khi ly hôn giao con chung cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ngoài ra, từ khi chị M đi lao động nước ngoài cháu T vẫn được anh D nuôi dưỡng, chăm sóc cháu phát triển bình thường cả về thể chất và tinh thần. Cháu T trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị M về việc giao cháu Lý Thanh T, sinh ngày 15/5/2017 cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật sau khi ly hôn là phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, nguyện vọng của cháu T cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn, chị Hỷ Thị Thu M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị M thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp chị Hỷ Thị Thu M về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
- Về mức cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con chung: Anh D yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh với mức cấp dưỡng là 4.000.000 đồng/01 tháng. Chị M đồng ý mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/01 tháng.
Xét yêu cầu của anh D và ý kiến của của chị M, Hội đồng xét xử thấy: Theo quy định tại Điều 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình quy định thì cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Do vậy, yêu cầu của anh D là có căn cứ.
Về mức cấp dưỡng theo quy định tại Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình quy định: “Các đương sự có quyền thỏa thuận về mức cấp dưỡng, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa quyết định nhưng không được thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi con”. Như vậy, căn cứ vào quy định trên và căn cứ Nghị định số: 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định về mức lương tối thiểu vùng có hiệu lực từ 01/7/2024. Gia đình anh Lý Văn D đang sinh sống ở huyện L, tỉnh Bắc Giang thuộc vùng III, mức lương tối thiểu vùng quy định là 3.860.000 đồng. Theo quy định trên thì chị M chỉ phải cấp dưỡng không quá một nửa mức lương tối thiểu vùng là 1.930.000 đồng. Do vậy, xét thấy chị M tự nguyện cấp dưỡng với mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/01 tháng là phù hợp, không trái quy định pháp luật nên chấp nhận ý kiến của chị M. Không chấp nhận yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 4.000.000 đồng/01 tháng của anh D.
Từ nhận định và phân tích tại mục [6], Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận ý kiến của chị M, buộc chị Hỷ Thị Thu M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Lý Thanh T, sinh ngày 15/5/2017 cùng anh Lý Văn D với mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là có căn cứ và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
- Về lãi suất chậm thi hành án: Do vắng mặt chị M, anh D nên không thể thỏa thuận được. Nên Hội đồng xét xử quyết định theo quy định pháp luật.
- Về tài sản, công nợ chung: Do chị M, anh D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Hỷ Thị Thu M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hỷ Thị Thu M phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Hỷ Thị Thu M vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Lý Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước, nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản1, 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Chị Hỷ Thị Thu M được ly hôn anh Lý Văn D.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Lý Thanh T, sinh ngày 15/5/2017 cho anh Lý Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn. Chị Hỷ Thị Thu M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị M thực hiện quyền này.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Hỷ Thị Thu M có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cháu Lý Thanh T, sinh ngày 15/5/2017 cùng với anh Lý Văn D với mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng)/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8 năm 2024 đến khi cháu Lý Thanh T đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Chị Hỷ Thị Thu M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001371 ngày 10/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Hỷ Thị Thu M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hỷ Thị Thu M phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo bản án: Chị Hỷ Thị Thu M có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Lý Văn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Đức Kha Ngô Văn Bê | Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 225/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 225/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị M và anh D
