|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN Bản án số: 224/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 8 - 2023 V/v “tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Kim Tiến;
2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Phụng - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 801/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 261/2023/QĐXX-ST ngày 03/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Bùi Văn X, sinh năm 1972 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B trình bày:
Bà B và ông X có đăng ký kết hôn vào ngày 19/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung; mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nhận thấy không thể chung sống cùng nhau nên bà yêu cầu ly hôn với ông X.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Bùi Thị L, sinh ngày 05/5/1995, hiện đã trưởng thành và Bùi Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 09/7/2008. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu D; không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Bùi Văn X trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Ngọc B về thời gian chung sống; điều kiện kết hôn và con chung. Bà B kiên quyết ly hôn, ông đồng ý.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Bùi Thị L, sinh ngày 05/5/1995, hiện đã trưởng thành và Bùi Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 09/7/2008, ông đồng ý để bà B tiếp tục nuôi con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Ngọc B nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Bùi Văn X có địa chỉ cư trú tại xã X, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông X tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 19/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ phần trình bày của bà B về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà B vẫn giữ yêu cầu ly hôn, ông X đồng ý. Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà B và ông X là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc B.
Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Bùi Thị L, sinh ngày 05/5/1995, hiện đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết. Cháu Bùi Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 09/7/2008 trên 07 tuổi, có nguyện vọng sống cùng mẹ. Ông X và bà B đều thống nhất để bà B tiếp tục nuôi dưỡng cháu D. Do đó, căn cứ vào điều kiện của các bên; quyền lợi về mọi mặt và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Bùi Nguyễn Ngọc D cho bà B tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà B không yêu cầu nên ông X không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Bà B và ông X được quyền khởi kiện về tài sản chung và nợ chung thành vụ án khác khi có phát sinh tranh chấp.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc B đối với ông Bùi Văn X.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc B được ly hôn với ông Bùi Văn X.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc B được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Bùi Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 09/7/2008.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Bùi Văn X không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu.
Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc B phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà B đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004116 ngày 21/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà B đã nộp xong.
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc B và ông Bùi Văn X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Tho |
Bản án số 224/2023/HNGĐ-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 224/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc B ly hôn Bùi Văn X
