Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ

Bà Vương Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 103/2024/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1960; trú tại: Số D, đường A, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1968; trú tại: Số D, đường A, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn M1, sinh năm 1966; trú tại: Số D, đường A, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 01/02/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:

Ngày 14/02/2017, bà Phạm Thị H được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số: CD 927054, số vào số cấp GCN: CH05533, diện tích 100m², thuộc thửa đất số 3995, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Bà Nguyễn Thị Ngọc M là chủ sở hữu đất liền kề với thửa đất của bà Phạm Thị H. Tại thửa đất trên bà M xây dựng nhà ở có phần móng nhà đúng ranh giới, vị trí đất đã được nhà nước cấp. Tuy nhiên, bà M có làm 04 cái lam cửa sổ, 01 cục gắn camera và 01 phần đầu mái che cổng nhà lấn qua đất của bà H. Bà H yêu cầu bà M tháo dỡ thì bà M không thực hiện nên bà H khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà M tháo dỡ: 04 cái lam cửa sổ, 01 cục gắn camera, 01 phần đầu mái che của cổng nhà mà bà M xây dựng lấn sang phần đất của bà Phạm Thị H. Nay bà M đã tháo cục gắn camera nên bà H chỉ yêu cầu bà M gỡ 04 cái lam cửa sổ và một phần đầu mái che của cổng.

- Tại bản tự khai ngày 14/3/2024 và tại phiên hòa giải bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ngọc M được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Dĩ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 100m², thửa đất số 3994, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại khu phố C, phường B, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương theo số CE 236402, số vào số cấp GCN: CH05297 ngày 17/01/2017. Thửa đất nhà bà M liền kề, giáp ranh phần đất nhà bà H. Bà M xây dựng nhà đúng theo giấy phép xây dựng đã được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền và bà M sử dụng phần đất đúng ranh giới, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, không lấn chiếm diện tích đất, phần mái che của cổng nhà cũng như lam cửa sổ không lấn qua phần đất của bà Phạm Thị H. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu bà M gỡ 04 cái lam cửa sổ và một phần đầu mái che của cổng là không có căn cứ. Nếu phần lam cửa sổ lấn sang phần đất bà H, thì khi nào bà H xây dựng cứ phạt đi.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn M1 thống nhất với ý kiến của bà Nguyễn Thị Ngọc M.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Xét thấy căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Ngọc M và ông Đặng Văn M1 có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà M và ông M1 theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà M tháo gỡ cục gắn camera. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định tại điểm c Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2] Nguyên đơn và bị đơn thống nhất bà Phạm Thị H và bà Nguyễn Thị Ngọc M là chủ sử dụng thửa đất liền kề với nhau. Bà Nguyễn Thị Ngọc M xây dựng móng nhà đúng ranh giới thửa đất, không lấn ranh đất của bà H. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn gỡ 04 cái lam cửa sổ và một phần đầu mái che của cổng lấn sang đất của nguyên đơn thì thấy: Bà Nguyễn Thị Ngọc m đã xây dựng móng nhà đúng ranh giới vị trí đất đã được nhà nước cấp. Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An căn nhà của bà M xây dựng 3 tầng, tường phía giáp đất bà H có 04 cửa sổ phía trên có 04 cái lam; cổng làm hết ranh đất, cột cổng phía bên nhà bà H có treo 01 hộp camera; một phần đỉnh mái ngói cổng lấn sang phần đất bà H khoảng 02cm.

[2.4] Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2015 quy dịnh: “Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây dựng vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với bất động sản liền kề và xung quanh”. Do đó, phần lam của 04 cửa sổ và một phần đỉnh mái ngói cổng nhà bà M sang phần đất nhà bà H khoảng 02cm là vi phạm quy định tại Điều 174 Bộ luật dân sự, bà H khởi kiện yêu cầu bà M gỡ bỏ là có căn cứ.

[2.5] Từ những phân tích trên thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương là phù hợp.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc: Bị đơn phải chịu 1.600.000đ; nguyên đơn đã đóng tạm ứng, vì vậy bị đơn có trách nhiệm thanh toán lại cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ :

  • - Khoản 2 Điều 26, Điều 39, Điều 96, Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 174, 178 Bộ luật dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H về yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M tháo gỡ cục camera trên cột cổng phía giáp nhà nguyên đơn.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
    Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc M là chủ sở hữu căn nhà trên thửa đất số 3994, tờ bản đồ số 5 có cạnh giáp thửa đất số 3995, tờ bản đồ số 5, tọa lạc khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương của bà Phạm Thị H phải gỡ bỏ 04 lam cửa sổ và 02cm phần đỉnh mái ngói cổng lấn sang phần đất nhà bà H.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 300.000đ án phí. Nguyên đơn không phải chịu.
  4. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc: Bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Anh T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 103/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 103/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị đơn vắng mặt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger